Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng t211
T211.7

7. Về Từ (mettā)

Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.

Beal 1Thuở xưa, Đức Phật trú ngụ tại một xứ cách thành Rājagriha (Vương Xá) khoảng 500 lý, đầy núi non. Trong những ngọn núi này, có một bộ tộc khoảng 122 người sinh sống, họ sống bằng nghề săn bắn, và nuôi sống bản thân bằng thịt của những con vật họ giết được. [Đức Phật đến nơi đó và giáo hóa những người phụ nữ, những người ở nhà một mình vào ban ngày trong khi chồng họ đi săn, rồi Ngài nói thêm những lời này]: “Người có lòng nhân thì không sát sinh (hoặc, không sát sinh là có lòng nhân); người ấy luôn có thể bảo toàn sinh mạng. Nguyên tắc này (chu) là bất diệt; ai tuân thủ nó, tai họa sẽ không giáng xuống người đó. Lễ độ, vô nhiễm với thế sự, không làm hại ai, không có chỗ cho phiền não—đây là đặc tính của cõi Phạm Thiên (hoặc Phạm Thiên). Luôn thực hành lòng từ đối với người yếu đuối; thanh tịnh, theo giáo pháp của Đức Phật; biết đủ, biết dừng—đây là thoát khỏi Sinh và Tử.” [Những người phụ nữ, sau khi nghe những lời này, đã được giáo hóa, và khi những người đàn ông trở về, mặc dù ban đầu họ muốn giết Đức Phật, nhưng đã bị vợ mình ngăn cản; và, lắng nghe những lời từ bi của Ngài, họ cũng được giáo hóa]. Và rồi Ngài nói thêm những lời này: “Có mười một lợi ích dành cho người thực hành lòng từ bi, và dịu dàng với tất cả chúng sinh; thân thể người ấy luôn khỏe mạnh (an lạc); người ấy được ban phước với giấc ngủ an lành, và khi học tập cũng được an định; người ấy không có ác mộng, được chư Thiên (Devas) bảo hộ, và được mọi người yêu mến; người ấy không bị quấy nhiễu bởi những vật độc hại, và thoát khỏi bạo lực chiến tranh; người ấy không bị lửa hay nước làm hại; người ấy thành công ��� bất cứ nơi nào mình sống, và khi chết sẽ sinh về cõi Phạm Thiên. Đó là mười một lợi ích.” Sau khi nói những lời này, cả nam và nữ đều được thâu nhận vào hàng đệ tử của Ngài, và đạt được sự an lạc. Beal 2Thuở xưa, có một vị vua hùng mạnh, tên là Ho-meh (ái-ám), trị vì một vùng đất mà chưa từng nghe tin tức về Đức Phật hay giáo pháp từ bi của Ngài; mà các nghi lễ tôn giáo là những lễ vật cúng tế và cầu nguyện chư thần để được bảo hộ. Bấy giờ, mẹ của nhà vua lâm bệnh, các thầy thuốc đã cố gắng dùng thuốc nhưng vô hiệu, tất cả các hiền giả được triệu tập để bàn bạc về phương cách tốt nhất để phục hồi sức khỏe cho bà. Sau vài năm, bệnh tình không thuyên giảm, Hoàng thái hậu cho triệu 200 vị Bà-la-môn nổi tiếng, và yêu cầu họ dùng thuật siêu nhiên để tìm ra phương cách chữa bệnh từ mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Những vị Bà-la-môn này đáp: “Làm vậy là vô ích, vì các dấu hiệu trên trời đang đối nghịch và không thuận lợi.” Khi nhà vua hỏi họ nên làm gì, họ đáp: “Bên ngoài thành phố nên chọn một nơi thuận tiện, bằng phẳng, không ô uế, và cúng tế hàng trăm loài thú khác nhau trên bốn ngọn đồi (hoặc bốn phương), mặt trời, mặt trăng, và các vì sao, với một đứa trẻ sơ sinh làm vật hiến tế cao nhất dâng lên Trời. Sau đó, nhà vua đích thân cùng mẹ mình đến nơi này để tham gia lễ tế, thì các vì sao và thiên thể có thể được xoa dịu. [Khi đó, Đức Phật, động lòng từ bi, đã đến nơi đó, và thuyết một bài pháp về “Lòng Từ đối với tất cả chúng sinh,” và nói thêm những lời này]: “Nếu một người sống trăm năm, và dành toàn bộ thời gian và tâm trí vào việc cúng dường tôn giáo cho chư thần, hiến tế voi, ngựa, và những thứ khác, tất cả những điều này không bằng một hành động từ bi thuần khiết trong việc cứu mạng sống.” [Do bài pháp này và sự hiển lộ thân tướng quang minh của Đức Phật, họ đã được giáo hóa, và trở thành đệ tử.]
⏳ Đang tải T211.8...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc