Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Beal 1Ngày xưa, khi Đức Phật trú tại Kỳ-viên Tịnh-xá, thành Xá-vệ, có bốn vị Tỳ-kheo mới xuất gia cùng nhau đến ngồi dưới gốc cây mận, định tâm tu tập thiền định. Lúc bấy giờ, cây mận đang nở hoa rực rỡ. Bốn vị Tỳ-kheo bị thu hút bởi sắc đẹp và hương thơm ngào ngạt của hoa, nên câu chuyện của họ chuyển sang đề tài: điều gì trên thế gian này đáng yêu nhất, là nguồn gốc của hỷ lạc? Một vị nói: “Tôi nghĩ hạnh phúc lớn nhất trên đời là vào một đêm trăng sáng mùa xuân, khi muôn cây đâm chồi nảy lộc, được dạo chơi khắp thôn quê, tận hưởng niềm vui không chút ràng buộc.” Vị khác nói: ��Tôi nghĩ niềm vui cao nhất là được tham gia những buổi họp mặt gia đình, thưởng thức tiệc tùng, rượu ngon, âm nhạc và vũ điệu.” Vị khác nữa nói: “Tôi nghĩ hạnh phúc cao nhất là sở hữu khối tài sản khổng lồ, đủ để có được mọi thứ lòng mình mong muốn, dù là xe cộ hay ngựa, y phục hay trang sức, khiến mình khi bước ra đời được mọi người ngưỡng mộ và ghen tị.” Vị thứ tư nói: “Còn tôi nghĩ hạnh phúc cao nhất là có một người vợ xinh đẹp tuyệt trần, được nhìn nàng khoác lên mình những bộ y phục lộng lẫy nhất, xức những loại hương liệu quý hiếm nhất, và luôn sẵn sàng cho sự ân ái.” Bấy giờ, Đức Phật quán sát thấy những vị này có khả năng giác ngộ, nhưng chưa thấu hiểu sự vô thường của sáu trần cảnh dục lạc, liền thở dài, hỏi bốn vị: “Các ông ngồi dưới gốc cây này, đang bàn luận về điều gì vậy?” Họ liền thành thật trình bày ý niệm hạnh phúc của mỗi người. Đức Phật liền đáp: “Hãy chấm dứt những lời bàn luận như vậy, vì tất cả những điều các ông mong muốn ấy đều là nguyên nhân của sầu khổ, bất hạnh, sợ hãi v�� tai ương. Đây không phải là con đường dẫn đến an lạc vĩnh cửu, không phải là hệ thống của niềm hỷ lạc tối thượng. Hoa xuân rồi sẽ tàn úa vào mùa thu, và rụng rời tan nát trước cái lạnh mùa đông. Tất cả những bằng hữu mà các ông đặt niềm tin vào để tìm cầu hạnh phúc, chẳng bao lâu rồi cũng sẽ ly tán, mỗi người một ngả. Tài sản mà các ông quý trọng, vẻ đẹp của người vợ, và những thú vui ấy, than ôi! đều là nguyên nhân của mọi bất hạnh—oán ghét trong gia đình, thân thể suy tàn, khổ đau trong tương lai! Này các Tỳ-kheo! Hãy chắc chắn rằng niềm an lạc tối thượng là rời bỏ thế gian, tìm cầu trí tuệ tối thượng, khao khát một trạng thái hoàn toàn vô nhiễm, không mong cầu gì cho bản thân, hướng đến Niết-bàn.” Rồi Đức Thế Tôn thuyết kệ rằng:
“Từ ái dục sinh sầu, từ ái dục sinh sợ;
Không ái dục thì sầu gì, sợ gì?
Từ hỷ lạc sinh sầu, từ hỷ lạc sinh sợ;
Không hỷ lạc thì sầu gì, sợ gì?
Từ tham lam sinh sầu, từ tham lam sinh sợ;
Không tham lam thì không sầu, không sợ.
Nhưng tham lam để hoàn thành trọn vẹn các giới luật của Chánh Pháp—
Thành thật trong mọi việc, khiêm tốn trong mọi việc,
Hành xử theo lẽ phải—đây là đặt nền tảng cho tình thương của tất cả.
Ý niệm hỷ lạc chưa sinh khởi, tư tưởng và lời nói an tịnh,
Tâm không bị mê hoặc bởi ái dục, người ấy chắc chắn sẽ vượt thoát Dòng luân hồi.”
[Sau khi thuyết những lời này, Đức Phật giải thích rằng, vào những ngày xa xưa, có một vị Vua đã chiêu đãi bốn vị Vua láng giềng khác, và chiều chuộng họ mọi thú vui. Những câu hỏi tương tự như trên đã nảy sinh giữa họ, và cuối cùng vị Vua chủ nhà đã giải thích vấn đề như Đức Phật đã làm. Vào dịp đó, bốn vị Vua kia chính là bốn vị Tỳ-kheo, và vị Vua chủ nhà chính là Đức Phật.]
T 0595b24昔佛在舍衛精舍。時有四新學比丘,相將至T 0595b25[木*奈]樹下坐禪行道,[木*奈]華榮茂色好且香,因T 0595b26相謂曰:「世間萬物何者可愛以快人情?」一人T 0595b27言:「仲春之月日木榮華,遊戲原野,此最為T 0595b28樂。」一人言:「宗親吉會,觴酌交錯音樂歌舞,此T 0595b29最為樂。」一人言:「多積財寶所欲即得,車馬服T 0595c01飾與眾有異,出入光顯行者矚目,此最為樂。」T 0595c02一人言:「妻妾端正綵服鮮明,香熏芬馥恣意T 0595c03縱情,此最為樂。」佛知四人應可化度,而走意T 0595c04六欲不惟無常,即呼四人而問之曰:「屬坐樹T 0595c05下共論何事?」四人以實具白所樂。佛告四T 0595c06人:「汝等所論,盡是憂畏危亡之道,非是永安T 0595c07最樂之法也。萬物春榮秋冬衰落,宗親歡娛T 0595c08皆當別離,財寶車馬五家之分,妻妾美色愛T 0595c09憎之主也。凡夫處世興招怨禍,危身滅族憂T 0595c10畏無量,三塗八難苦痛萬端,靡不由之矣。是T 0595c11以比丘捨世求道,志存無為不貪榮利,自致T 0595c12泥洹乃為最樂。」
於是世尊即說偈言:T 0595c13
SC Verse 169Verse 24.1「愛喜生憂, 愛喜生畏,
無所愛喜,T 0595c14 何憂何畏?
SC Verse 170Verse 24.2好樂生憂, 好樂生畏,T 0595c15
SC Verse 171Verse 24.3無所好樂, 何憂何畏?
貪欲生憂,T 0595c16 貪欲生畏,
SC Verse 172Verse 24.4解無貪欲, 何憂何畏?T 0595c17
SC Verse 173Verse 24.5貪法戒成, 至誠知慚,
行身近道,T 0595c18 為眾所愛。
SC Verse 174Verse 24.6欲態不出, 思正乃語,T 0595c19
心無貪愛, 必截流度。」T 0595c20
佛告四比丘:「昔有國王名曰普安,與隣國四王T 0595c21共為親友,請此四王宴會一月,飲食娛樂極T 0595c22歡無比。臨別之日,普安王問四王曰:『人居世T 0595c23間以何為樂?』一王言:『遊戲為樂。』一王言:『宗親T 0595c24吉會音樂為樂。』一王言:『多積財寶所欲如意為T 0595c25樂。』一王言:『愛欲恣情此最為樂。』普安王言:T 0595c26『卿等所論,是苦惱之本、憂畏之原,前樂後苦憂T 0595c27悲萬端,皆由此興。不如寂靜,無求無欲淡泊T 0595c28守一,得道為樂。』四王聞之歡喜信解。」佛告四T 0595c29比丘:「爾時普安王者,我身是也;四王者,汝T 0596a01四人是也。前已說之今故不解,生死莚蔓T 0596a02何由休息?」時四比丘重聞此義,慚愧悔過心T 0596a03意開悟,滅意斷欲得羅漢道。
T 0596a04 Beal 1In days of old, when Buddha was residing in the Jetavana Vihāra, at Śrāvastī, there were four newly-admitted mendicants who went together and sat under a plum-tree, intending to engage themselves in religious contemplation (dhyāna). At this time the tree was in full bloom, and struck by the beautiful colours and the fragrant perfume of the blossoms, the conversation of the mendicants took the following turn—viz., as to what in all the world was most worthy of love as a source of pleasure. Then one of them said, “I think the greatest happiness in the world is during some moonlight night in spring, when all the trees are in bloom, to wander forth in the country, and take one's pleasure without constraint,” Another said, “I think the highest pleasure is in joining in some family social gathering, and enjoying the feast and the wine, the music and the dancing.” Another said, “I think the highest happiness is to possess such funds of wealth as to enable one to procure whatever the heart desires, whether it be chariots or horses, clothing or ornaments, such as would make one, on going into the world, the admiration and envy of all beholders.” The fourth said, “And I think the highest happiness to be to possess a wife as beautiful as possible, and to see her clad in all the choicest robes, anointed with the rarest unguents, and always ready for the indulgence of love.” Now Buddha, perceiving that these men were capable of conversion, but had not yet arrived at a knowledge of the impermanency of the six objects of desire, immediately, with a sigh, addressed the four men, and asked them, “What is the subject of your discourse, as you sit here together beneath this tree?” On this they told him truthfully what each one's idea of happiness was. And then Buddha rejoined, “Let there be an end of such discourse, for all these things (which you desire) are the causes of (way of) sorrow, misfortune, fear, and calamity. This is not the way of eternal peace, the system of the highest joy. The flowers of spring shall fade in autumn, and fall in utter decay before the winter cold. All those friends in whose society you place such reliance for happiness, ere long shall be scattered and separated far and wide. That wealth you prize, and that beauty of wife, and those pleasures, alas! are the causes of every misfortune—hatred in families, wreck of body, future misery! Wherefore, Bhikshus! be sure that the highest bliss is to leave the world, to search after supreme wisdom, to covet a condition of entire indifference, to desire nought for one's self, to aim at Nirvāna.” And then the World-honoured uttered these stanzas :—
“From love (or lust) comes sorrow, from lust comes fear; where there is no lust (or, no ground for lust), what sorrow, what fear can there be? From pleasure comes sorrow, from pleasure comes fear; where there is no ground for pleasure, what grief or fear can there be? From covetousness (greed) comes sorrow, from greed comes fear; where one is free from covetousness, there can be no sorrow or fear. But to be greedy to fulfil perfectly the requirements (moral rules) of the Law—to be truthful in everything (or, to be perfectly truthful), to be modest in everything, to conduct his own business (to order himself) according to what is right—this is to lay a foundation of love from all. The idea of pleasure not yet produced, his thoughts and words composed, his mind unaffected by any bewilderment of love, he indeed shall mount above (or cut off) the Stream.”
[Having uttered these words, Buddha explained that in days gone by there was a King who, having entertained four other neighbouring Kings, and indulged them in every pleasure, similar questions to the above arose amongst them, and at last the King who was the host explained the matter as Buddha had done, on which occasion the four Kings were the four Bhikshus, and the chief King was Buddha himself.]
Beal 1Ngày xưa, khi Đức Phật trú tại Kỳ-viên Tịnh-xá, thành Xá-vệ, có bốn vị Tỳ-kheo mới xuất gia cùng nhau đến ngồi dưới gốc cây mận, định tâm tu tập thiền định. Lúc bấy giờ, cây mận đang nở hoa rực rỡ. Bốn vị Tỳ-kheo bị thu hút bởi sắc đẹp và hương thơm ngào ngạt của hoa, nên câu chuyện của họ chuyển sang đề tài: điều gì trên thế gian này đáng yêu nhất, là nguồn gốc của hỷ lạc? Một vị nói: “Tôi nghĩ hạnh phúc lớn nhất trên đời là vào một đêm trăng sáng mùa xuân, khi muôn cây đâm chồi nảy lộc, được dạo chơi khắp thôn quê, tận hưởng niềm vui không chút ràng buộc.” Vị khác nói: ��Tôi nghĩ niềm vui cao nhất là được tham gia những buổi họp mặt gia đình, thưởng thức tiệc tùng, rượu ngon, âm nhạc và vũ điệu.” Vị khác nữa nói: “Tôi nghĩ hạnh phúc cao nhất là sở hữu khối tài sản khổng lồ, đủ để có được mọi thứ lòng mình mong muốn, dù là xe cộ hay ngựa, y phục hay trang sức, khiến mình khi bước ra đời được mọi người ngưỡng mộ và ghen tị.” Vị thứ tư nói: “Còn tôi nghĩ hạnh phúc cao nhất là có một người vợ xinh đẹp tuyệt trần, được nhìn nàng khoác lên mình những bộ y phục lộng lẫy nhất, xức những loại hương liệu quý hiếm nhất, và luôn sẵn sàng cho sự ân ái.” Bấy giờ, Đức Phật quán sát thấy những vị này có khả năng giác ngộ, nhưng chưa thấu hiểu sự vô thường của sáu trần cảnh dục lạc, liền thở dài, hỏi bốn vị: “Các ông ngồi dưới gốc cây này, đang bàn luận về điều gì vậy?” Họ liền thành thật trình bày ý niệm hạnh phúc của mỗi người. Đức Phật liền đáp: “Hãy chấm dứt những lời bàn luận như vậy, vì tất cả những điều các ông mong muốn ấy đều là nguyên nhân của sầu khổ, bất hạnh, sợ hãi v�� tai ương. Đây không phải là con đường dẫn đến an lạc vĩnh cửu, không phải là hệ thống của niềm hỷ lạc tối thượng. Hoa xuân rồi sẽ tàn úa vào mùa thu, và rụng rời tan nát trước cái lạnh mùa đông. Tất cả những bằng hữu mà các ông đặt niềm tin vào để tìm cầu hạnh phúc, chẳng bao lâu rồi cũng sẽ ly tán, mỗi người một ngả. Tài sản mà các ông quý trọng, vẻ đẹp của người vợ, và những thú vui ấy, than ôi! đều là nguyên nhân của mọi bất hạnh—oán ghét trong gia đình, thân thể suy tàn, khổ đau trong tương lai! Này các Tỳ-kheo! Hãy chắc chắn rằng niềm an lạc tối thượng là rời bỏ thế gian, tìm cầu trí tuệ tối thượng, khao khát một trạng thái hoàn toàn vô nhiễm, không mong cầu gì cho bản thân, hướng đến Niết-bàn.” Rồi Đức Thế Tôn thuyết kệ rằng:
“Từ ái dục sinh sầu, từ ái dục sinh sợ;
Không ái dục thì sầu gì, sợ gì?
Từ hỷ lạc sinh sầu, từ hỷ lạc sinh sợ;
Không hỷ lạc thì sầu gì, sợ gì?
Từ tham lam sinh sầu, từ tham lam sinh sợ;
Không tham lam thì không sầu, không sợ.
Nhưng tham lam để hoàn thành trọn vẹn các giới luật của Chánh Pháp—
Thành thật trong mọi việc, khiêm tốn trong mọi việc,
Hành xử theo lẽ phải—đây là đặt nền tảng cho tình thương của tất cả.
Ý niệm hỷ lạc chưa sinh khởi, tư tưởng và lời nói an tịnh,
Tâm không bị mê hoặc bởi ái dục, người ấy chắc chắn sẽ vượt thoát Dòng luân hồi.”
[Sau khi thuyết những lời này, Đức Phật giải thích rằng, vào những ngày xa xưa, có một vị Vua đã chiêu đãi bốn vị Vua láng giềng khác, và chiều chuộng họ mọi thú vui. Những câu hỏi tương tự như trên đã nảy sinh giữa họ, và cuối cùng vị Vua chủ nhà đã giải thích vấn đề như Đức Phật đã làm. Vào dịp đó, bốn vị Vua kia chính là bốn vị Tỳ-kheo, và vị Vua chủ nhà chính là Đức Phật.]
Beal 1In days of old, when Buddha was residing in the Jetavana Vihāra, at Śrāvastī, there were four newly-admitted mendicants who went together and sat under a plum-tree, intending to engage themselves in religious contemplation (dhyāna). At this time the tree was in full bloom, and struck by the beautiful colours and the fragrant perfume of the blossoms, the conversation of the mendicants took the following turn—viz., as to what in all the world was most worthy of love as a source of pleasure. Then one of them said, “I think the greatest happiness in the world is during some moonlight night in spring, when all the trees are in bloom, to wander forth in the country, and take one's pleasure without constraint,” Another said, “I think the highest pleasure is in joining in some family social gathering, and enjoying the feast and the wine, the music and the dancing.” Another said, “I think the highest happiness is to possess such funds of wealth as to enable one to procure whatever the heart desires, whether it be chariots or horses, clothing or ornaments, such as would make one, on going into the world, the admiration and envy of all beholders.” The fourth said, “And I think the highest happiness to be to possess a wife as beautiful as possible, and to see her clad in all the choicest robes, anointed with the rarest unguents, and always ready for the indulgence of love.” Now Buddha, perceiving that these men were capable of conversion, but had not yet arrived at a knowledge of the impermanency of the six objects of desire, immediately, with a sigh, addressed the four men, and asked them, “What is the subject of your discourse, as you sit here together beneath this tree?” On this they told him truthfully what each one's idea of happiness was. And then Buddha rejoined, “Let there be an end of such discourse, for all these things (which you desire) are the causes of (way of) sorrow, misfortune, fear, and calamity. This is not the way of eternal peace, the system of the highest joy. The flowers of spring shall fade in autumn, and fall in utter decay before the winter cold. All those friends in whose society you place such reliance for happiness, ere long shall be scattered and separated far and wide. That wealth you prize, and that beauty of wife, and those pleasures, alas! are the causes of every misfortune—hatred in families, wreck of body, future misery! Wherefore, Bhikshus! be sure that the highest bliss is to leave the world, to search after supreme wisdom, to covet a condition of entire indifference, to desire nought for one's self, to aim at Nirvāna.” And then the World-honoured uttered these stanzas :—
“From love (or lust) comes sorrow, from lust comes fear; where there is no lust (or, no ground for lust), what sorrow, what fear can there be? From pleasure comes sorrow, from pleasure comes fear; where there is no ground for pleasure, what grief or fear can there be? From covetousness (greed) comes sorrow, from greed comes fear; where one is free from covetousness, there can be no sorrow or fear. But to be greedy to fulfil perfectly the requirements (moral rules) of the Law—to be truthful in everything (or, to be perfectly truthful), to be modest in everything, to conduct his own business (to order himself) according to what is right—this is to lay a foundation of love from all. The idea of pleasure not yet produced, his thoughts and words composed, his mind unaffected by any bewilderment of love, he indeed shall mount above (or cut off) the Stream.”
[Having uttered these words, Buddha explained that in days gone by there was a King who, having entertained four other neighbouring Kings, and indulged them in every pleasure, similar questions to the above arose amongst them, and at last the King who was the host explained the matter as Buddha had done, on which occasion the four Kings were the four Bhikshus, and the chief King was Buddha himself.]