Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng t211
T211.23

23. An lạc (sukhavaggo)

Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.

Beal 1
Thuở xưa, cách thành Vương Xá (Rājagriha) khoảng 300 lý về phía nam, có một ngôi làng với khoảng 500 nông dân miền núi, lòng họ xa rời giáo Pháp, khó cảm hóa bằng phương tiện thông thường, nhưng không thờ ơ với hy vọng giải thoát tối hậu. Thế Tôn bèn hóa hiện thành hình tướng một Sa-môn, đến làng khất thực. Sau khi đã khất thực đủ, Ngài rời làng và ngồi dưới một gốc cây gần đó. Khi đang ngồi như vậy, Ngài nhập vào một trạng thái Tam-muội (Samādhi) gọi là Niết-bàn, và an trụ trong bảy ngày, không lay động, và (dường như) không thở. Dân làng thấy Ngài như vậy, tin rằng Ngài đã chết, bèn n��i với nhau: “Sa-môn này rõ ràng đã chết; chúng ta hãy gom củi làm giàn hỏa thiêu và đốt thân Ngài.” Sau khi làm xong, họ châm lửa đốt củi. Sau khi lửa tàn, Đức Phật từ đống tro tàn đứng dậy, thị hiện thân tướng rực rỡ của Ngài bằng nhiều phép thần thông, Ngài trở lại dưới bóng cây nơi Ngài đã ngồi trước đó, và lại an tọa trong sự an tịnh hoàn toàn. Dân làng, thấy sự việc kỳ diệu này, tất cả đều đến gần và kính cẩn đảnh lễ Ngài, và thưa rằng: “Chúng con thật sự chỉ là những người dân núi nghèo khó, không biết Ngài là một vị thần, nên đã chuẩn bị giàn hỏa thiêu để đốt thân Ngài. Chúng con xin thú tội, cầu xin sự tha thứ, và khẩn cầu rằng không có tai họa nào giáng xuống chúng con do hậu quả này, dù là bệnh tật, đói kém, hay hạn hán.” Thế Tôn bèn mở lời, và đọc những bài kệ sau:—

“Ta sống an lạc, không sân hận giữa những người sân hận. Quả thật, mọi người khắp nơi đều sân hận, nhưng ta sống không sân hận. Ta sống an lạc, không bệnh tật giữa những người bệnh tật; mọi người đều khổ vì bệnh tật, nhưng ta không có. Ta sống an lạc, không sầu muộn giữa những người sầu muộn; mọi người đều có sầu muộn, nhưng ta không có. Ta sống an lạc, trong sự an tịnh hoàn toàn, không có mục đích cá nhân (vô vi), nuôi dưỡng bằng niềm vui (siêu thế), như các vị Phạm Thiên Quang Âm (Abhāsvaras) trên cao. Ta sống an lạc, bình thản, vô tư, không nghĩ về ‘điều ta phải làm.’ Vậy hãy chất củi lên, và để lửa bao quanh ta; nhưng làm sao nó có thể chạm đến một người như ta?”

Nghe vậy, dân làng quy y Tam Bảo và trở thành A-la-hán. Đức Phật và các đệ tử của Ngài bay về Tịnh xá Trúc Lâm. Nhân dịp đó, Thế Tôn giải thích cho A-nan (Ananda) rằng, trong những kiếp trước, khi Ngài là một Bích-chi Phật (Pratyeka Buddha), Ngài đã chứng đắc Niết-bàn dưới chính gốc cây này. Và bởi vì dân làng đã hỏa thiêu thân Ngài một cách thành kính, thu thập xá-lợi của Ngài và đặt vào một hộp, rồi tôn kính chúng, nên nay họ được đặc ân nghe Ngài thuyết Pháp, và nhờ đó đã chứng đắc quả vị của các Đạo. Sau lời giải thích này, vô số chư Thiên (Devas) đã chứng ngộ các Đạo.
Beal 2
Thuở xưa, khi Đức Phật đang trú tại Tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana), ở thành Xá-vệ (Śrāvastī), có bốn Tỳ-kheo (Bhikshus) đang ngồi dưới một gốc cây, họ đàm luận với nhau rằng: “Theo quý vị, điều khổ não lớn nhất trên đời là gì?” Một vị nói rằng khổ não lớn nhất trên đời là dục vọng; vị khác nói khổ não lớn nhất là đói khát; vị khác nói đó là sân hận; vị khác nói đó là sợ hãi. Trong khi họ đang tranh luận như vậy, không hy vọng đạt được sự đồng thuận, Đức Phật, biết rõ sự việc, liền hiện đến chỗ đó, và hỏi về cuộc tranh luận của họ. Nghe vậy, các Tỳ-kheo đứng dậy đảnh lễ Ngài, và trình bày sự việc. Thế Tôn bèn giải thích rằng họ chưa thấu triệt vấn đề, mà chính thân thể này là khổ não lớn nhất, vì từ thân thể mà sinh ra khổ não của đói khát, lạnh nóng, sân hận, kiêu mạn và dục vọng; và do đó, mục đích của chúng ta là thoát ly thân thể, để đạt được sự an nghỉ hoàn toàn của Niết-bàn. Rồi Ngài nói thêm những bài kệ sau:—

“Không có lửa nào lớn hơn dục vọng; không có độc nào tệ hơn sân hận; không có khổ nào lớn hơn thân này; không có niềm vui nào bằng sự diệt trừ (nó). Không có sự hòa hợp thì ít có niềm vui; khả năng phân biệt chân lý kém chứng tỏ ít trí tuệ; bằng cách nhận thức và tìm cầu điều thực sự vĩ đại, chỉ bằng phương tiện này, người ta mới đạt được sự an nghỉ hoàn toàn. Nay ta, bậc Thế Tôn, hoàn toàn giải thích bản chất của sự không sầu muộn; ta hoàn toàn (có thể) giải thoát ba cõi; ta một mình (hay chỉ riêng ta) đã đánh bại toàn bộ quân đội của Ma-vương (Māra).”

Sau khi nói những lời này, Đức Phật giải thích rằng trong những kiếp xa xưa, có một Tỳ-kheo nọ có năm thần thông, vị ấy trú trong núi dưới một gốc cây, thực hành khổ hạnh với mục đích giải thoát tối hậu. Trong khi vị ấy đang trú như vậy, bốn con vật cũng đến và trú ngụ gần Ngài, đó là, một con chim nhỏ (chim sẻ?), một con chim lớn (chim cút?), một con rắn độc, và một con nai. Một lần nọ, Tỳ-kheo nghe những con vật này cũng tranh cãi với nhau về điều khổ não lớn nhất trên đời, và chúng cũng, từ những tính cách khác nhau của mình, đã nêu ra những nguyên nhân khổ đau giống như quý vị, đó là dục vọng, đói khát, sân hận, và sợ hãi. Ngay lúc đó, Tỳ-kheo cũng giải thích cho chúng, như ta đã giải thích cho quý vị, rằng thân thể, nguồn gốc của mọi sầu khổ, là khổ não lớn nhất, và do đó, hạnh phúc lớn nhất là thoát ly thân thể và đạt được Niết-bàn. Và nhờ đó, chúng đã có thể hiểu được chân lý. Nay, vào thời điểm đó, ta chính là vị Tỳ-kheo, và quý vị chính là bốn con vật ấy. Nghe vậy, các vị Tỳ-kheo tràn đầy sự kính sợ thiêng liêng và tự trách mình, sau đó họ đã có thể đạt đến quả vị A-la-hán.
⏳ Đang tải T211.24...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc