BJT 85“Giống như con rắn từ bỏ lớp vỏ già cỗi, phần thân thể của mình, rồi ra đi, tương tự như thế ấy khi thân xác không còn lợi ích, khi là người đã ra đi, đã từ trần.
BJT 86Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không khóc cho người ấy, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
BJT 87“Không được gọi, từ nơi kia nó đã đi đến; chưa được phép, từ nơi này nó đã ra đi. Nó đã đi đến như thế nào thì nó đã ra đi như thế ấy, trong trường hợp ấy sự than vãn có lợi ích gì?
BJT 88Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không khóc cho người ấy, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
BJT 89“Nếu tôi khóc, tôi sẽ trở nên tiều tụy; trong trường hợp ấy liệu có được kết quả gì cho tôi? (Việc ấy) còn làm tăng thêm sự ưu sầu cho quyến thuộc bạn bè thân hữu của chúng tôi.
BJT 90Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không khóc cho người ấy, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
BJT 91“Cũng giống như đứa bé trai khóc lóc đòi mặt trăng đang di chuyển, người thương tiếc kẻ đã quá vãng có sự thành tựu y như thế.
BJT 92Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không khóc cho người ấy, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
BJT 93“Này người Bà-la-môn, cũng giống như lọ nước đã bị vỡ, không thể hàn gắn lại, người thương tiếc kẻ đã quá vãng có sự thành tựu y như thế.
BJT 94Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không khóc cho người ấy, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
Chuyện Ngạ Quỷ Rắn là thứ mười hai.
Phẩm Rắn là thứ nhất.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
Cánh đồng, con heo, (miệng) hôi thối, luôn cả (hình nộm) bằng bột, bên kia vách tường, rồi năm, và bảy đứa con trai, con bò đực, và người thợ dệt, tương tự là đầu bị sói, con voi, và luôn cả rắn nữa là mười hai.
“Uragova tacaṁ jiṇṇaṁ,
hitvā gacchati saṁ tanuṁ;
Evaṁ sarīre nibbhoge,
pete kālaṅkate sati.
Ḍayhamāno na jānāti,
ñātīnaṁ paridevitaṁ;
Tasmā etaṁ na rodāmi,
gato so tassa yā gati”.
“Anabbhito tato āgā,
nānuññāto ito gato;
Yathāgato tathā gato,
tattha kā paridevanā.
Ḍayhamāno na jānāti,
ñātīnaṁ paridevitaṁ;
Tasmā etaṁ na rodāmi,
gato so tassa yā gati”.
“Sace rode kisā assaṁ,
tattha me kiṁ phalaṁ siyā;
Ñātimittasuhajjānaṁ,
bhiyyo no aratī siyā.
Ḍayhamāno na jānāti,
ñātīnaṁ paridevitaṁ;
Tasmā etaṁ na rodāmi,
gato so tassa yā gati”.
“Yathāpi dārako candaṁ,
gacchantamanurodati;
Evaṁ sampadamevetaṁ,
yo petamanusocati.
Ḍayhamāno na jānāti,
ñātīnaṁ paridevitaṁ;
Tasmā etaṁ na rodāmi,
gato so tassa yā gati”.
“Yathāpi brahme udakumbho,
bhinno appaṭisandhiyo;
Evaṁ sampadamevetaṁ,
yo petamanusocati.
Ḍayhamāno na jānāti,
ñātīnaṁ paridevitaṁ;
Tasmā etaṁ na rodāmi,
gato so tassa yā gatī”ti.
Uragapetavatthu dvādasamaṁ.
Uragavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Khettañca sūkaraṁ pūti,
piṭṭhaṁ cāpi tirokuṭṭaṁ;
Pañcāpi sattaputtañca,
goṇaṁ pesakārakañca;
Tathā khallāṭiyaṁ nāgaṁ,
dvādasaṁ uragañcevāti.
A beloved son of a family died but none of the family members cried at his death. The son, reborn as the god Sakka, came to the family disguised as an old man and asked them why they didn’t cry.
Father:
Just as the serpent sheds its old skin and abandons it, humans also abandon their useless body and die. That burning dead body is unaware of the lamentation of its relatives. Therefore I do not cry over my dead son. He went to another life according to his karma.
Mother:
He came to this world without invitation and departed without permission. He was born in this world and went from this world according to his own karma. What is the use of crying? That burning dead body is unaware of the lamentation of its relatives. Therefore I do not cry over my dead son. He went to another life according to his karma.
Sister:
If I would cry, I would become very exhausted. What would I gain from crying? My crying would only bring more sadness to our relatives, friends, and family. That burning dead body is unaware of the lamentation of its relatives. Therefore I do not cry over my dead brother. He went to another life according to his karma.
Wife:
Just as a child cries asking for the moon, it is the same as someone crying over another’s death. That burning dead body is unaware of the lamentation of its relatives. Therefore I do not cry over my dead husband. He went to another life according to his karma.
Servant:
Just as a shattered pot cannot be fixed, it is the same as someone crying over another’s death. That burning dead body is unaware of the lamentation of its relatives. Therefore I do not cry over my dead master. He went to another life according to his karma.
BJT 85“Giống như con rắn từ bỏ lớp vỏ già cỗi, phần thân thể của mình, rồi ra đi, tương tự như thế ấy khi thân xác không còn lợi ích, khi là người đã ra đi, đã từ trần.
BJT 86Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không khóc cho người ấy, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
BJT 87“Không được gọi, từ nơi kia nó đã đi đến; chưa được phép, từ nơi này nó đã ra đi. Nó đã đi đến như thế nào thì nó đã ra đi như thế ấy, trong trường hợp ấy sự than vãn có lợi ích gì?
BJT 88Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không khóc cho người ấy, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
BJT 89“Nếu tôi khóc, tôi sẽ trở nên tiều tụy; trong trường hợp ấy liệu có được kết quả gì cho tôi? (Việc ấy) còn làm tăng thêm sự ưu sầu cho quyến thuộc bạn bè thân hữu của chúng tôi.
BJT 90Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không khóc cho người ấy, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
BJT 91“Cũng giống như đứa bé trai khóc lóc đòi mặt trăng đang di chuyển, người thương tiếc kẻ đã quá vãng có sự thành tựu y như thế.
BJT 92Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không khóc cho người ấy, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
BJT 93“Này người Bà-la-môn, cũng giống như lọ nước đã bị vỡ, không thể hàn gắn lại, người thương tiếc kẻ đã quá vãng có sự thành tựu y như thế.
BJT 94Người đang bị đốt cháy không hay biết việc than khóc của các thân quyến; do đó tôi không khóc cho người ấy, người ấy đã đi đến cảnh giới dành cho người ấy.”
Chuyện Ngạ Quỷ Rắn là thứ mười hai.
Phẩm Rắn là thứ nhất.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
Cánh đồng, con heo, (miệng) hôi thối, luôn cả (hình nộm) bằng bột, bên kia vách tường, rồi năm, và bảy đứa con trai, con bò đực, và người thợ dệt, tương tự là đầu bị sói, con voi, và luôn cả rắn nữa là mười hai.
“Uragova tacaṁ jiṇṇaṁ,
hitvā gacchati saṁ tanuṁ;
Evaṁ sarīre nibbhoge,
pete kālaṅkate sati.
Ḍayhamāno na jānāti,
ñātīnaṁ paridevitaṁ;
Tasmā etaṁ na rodāmi,
gato so tassa yā gati”.
“Anabbhito tato āgā,
nānuññāto ito gato;
Yathāgato tathā gato,
tattha kā paridevanā.
Ḍayhamāno na jānāti,
ñātīnaṁ paridevitaṁ;
Tasmā etaṁ na rodāmi,
gato so tassa yā gati”.
“Sace rode kisā assaṁ,
tattha me kiṁ phalaṁ siyā;
Ñātimittasuhajjānaṁ,
bhiyyo no aratī siyā.
Ḍayhamāno na jānāti,
ñātīnaṁ paridevitaṁ;
Tasmā etaṁ na rodāmi,
gato so tassa yā gati”.
“Yathāpi dārako candaṁ,
gacchantamanurodati;
Evaṁ sampadamevetaṁ,
yo petamanusocati.
Ḍayhamāno na jānāti,
ñātīnaṁ paridevitaṁ;
Tasmā etaṁ na rodāmi,
gato so tassa yā gati”.
“Yathāpi brahme udakumbho,
bhinno appaṭisandhiyo;
Evaṁ sampadamevetaṁ,
yo petamanusocati.
Ḍayhamāno na jānāti,
ñātīnaṁ paridevitaṁ;
Tasmā etaṁ na rodāmi,
gato so tassa yā gatī”ti.
Uragapetavatthu dvādasamaṁ.
Uragavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Khettañca sūkaraṁ pūti,
piṭṭhaṁ cāpi tirokuṭṭaṁ;
Pañcāpi sattaputtañca,
goṇaṁ pesakārakañca;
Tathā khallāṭiyaṁ nāgaṁ,
dvādasaṁ uragañcevāti.