BJT 134“Này cô nàng lòi cả xương sườn, gầy guộc, nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân?”
BJT 135“Tôi là Mattā, cô là Tissā, trước đây tôi đã là người vợ chung chồng với cô. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 136“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà từ nơi đây chị đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 137“Tôi đã là người nhẫn tâm, thô lỗ, ganh tỵ, bỏn xẻn, và xảo quyệt. Sau khi nói lời tồi tệ với cô, tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 138“Em cũng biết tất cả, chị đã là người nhẫn tâm như thế nào. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị bị bao phủ bởi bụi đất?”
BJT 139“Cô đã gội đầu xong, có y phục sạch sẽ, đã được trang điểm, và tôi còn hơn cả cô, đã được trang điểm hơn cả cô.
BJT 140Cô đã chuyện trò với chồng trong khi tôi đây đang quan sát; vì thế, tôi đã có sự ganh tỵ lớn lao, sự phẫn nộ đã nổi lên ở tôi.
BJT 141Kế đó, tôi đã hốt bụi đất và đã trút bụi đất xuống chính cô; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi bị bao phủ bởi bụi đất.”
BJT 142“Em cũng biết tất cả, chị đã trút bụi đất xuống em. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị bị day dứt bởi mụn ghẻ?”
BJT 143“Là những người thu hái dược liệu, cả hai chúng ta đã đi vào trong rừng. Cô đã thu hái dược liệu, còn tôi đã thu hái loại cây kapikacchu.
BJT 144Trong khi cô đây không hay biết, tôi đã rải rắc (kapikacchu) xuống giường của cô; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi bị day dứt bởi mụn ghẻ.”
BJT 145“Em cũng biết tất cả, chị đã rải rắc (kapikacchu) xuống giường của em. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị bị lõa lồ?”
BJT 146“Đã có cuộc gặp gỡ của các thân hữu, là cuộc hội họp của các thân quyến, và cô đã được mời cùng với người chồng (chung), còn tôi thì không.
BJT 147Trong khi cô đây không hay biết, tôi đã giấu đi y phục của cô; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi bị lõa lồ.”
BJT 148“Em cũng biết tất cả, chị đã giấu đi y phục của em. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị có mùi của phân?”
BJT 149“Tôi đã ném bỏ vật thơm, tràng hoa, và dầu thoa đắt giá của cô vào hố phân, việc xấu xa ấy đã do tôi gây ra; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi có mùi của phân.”
BJT 150“Em cũng biết tất cả, việc xấu xa ấy đã do chị gây ra. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị bị đọa vào khổ cảnh?”
BJT 151“Tài sản hiện có trong nhà đã là thuộc về cả hai một cách bình đẳng. Trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, tôi đã không tạo lập hòn đảo (nương nhờ) cho bản thân; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi bị đọa vào khổ cảnh.
BJT 152Chính vào lúc ấy, cô đã nói với tôi rằng: ‘Chị theo đuổi nghiệp ác, bởi vì với những nghiệp ác, nhàn cảnh là không dễ đạt được.’”
BJT 153“Chị đến với em bằng cách chống đối, và còn ganh tỵ với em nữa. Chị hãy nhìn xem quả thành tựu của những nghiệp ác là như thế nào.
BJT 154Nhà cửa và các tớ gái ấy, luôn cả các đồ trang sức này đã là của chị, và chúng đang phục vụ những kẻ khác; các của cải là không trường cửu.
BJT 155Giờ này, cha của Bhūta từ chợ đi về nhà có lẽ sẽ bố thí cho chị vật gì đó; cho đến khi ấy chị chớ rời khỏi đây.”
BJT 156“Tôi thì lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, gầy guộc, nổi đầy gân. Việc này là điều xấu hổ của hàng phụ nữ; chớ để cha của Bhūta nhìn thấy tôi.”
BJT 157“Nào, vật gì em sẽ biếu chị, hoặc là điều gì em làm cho chị, qua đó chị có thể được hạnh phúc, có sự thành tựu mọi điều mong mỏi?”
BJT 158“Bốn vị tỳ khưu (thỉnh) từ Hội Chúng, và bốn vị nữa (thỉnh) cá nhân, sau khi dâng bữa ăn đến tám vị tỳ khưu, hãy chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu mọi điều mong mỏi.”
BJT 159“Tốt lắm!” Sau khi thỏa thuận, nàng ấy đã dâng bữa ăn đến tám vị tỳ khưu, đã khoác lên (các vị) với những tấm vải, rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho nữ ngạ quỷ ấy.
BJT 160Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, y phục, nước uống; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 161Do đó, nàng ấy (nữ ngạ quỷ) trở nên sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải hạng nhất của xứ Kāsī, có các đồ trang sức và các tấm vải nhiều màu sắc, đã đi đến gặp người nữ có chung chồng.
BJT 162“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 163Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 164Hỡi nàng tiên có đại oai lực, tôi hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 165“Tôi là Mattā, cô là Tissā, trước đây tôi đã là người vợ có chung chồng với cô. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 166Nhờ vào vật thí đã được cô dâng cúng, tôi vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Này em gái, mong rằng cô sống thọ cùng với tất cả thân quyến.
BJT 167Nơi chốn không sầu muộn, xa lìa luyến ái, là chỗ trú ngụ của các vị có quyền lực. Này người đẹp, ở đây sau khi thực hành Giáo Pháp, sau khi dâng cúng vật thí, sau khi loại trừ ô nhiễm của sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, không bị chê trách, mong rằng cô đi đến nơi chốn cõi Trời.”
Chuyện Ngạ Quỷ Mattā là thứ ba.
“Naggā dubbaṇṇarūpāsi,
kisā dhamanisanthatā;
Upphāsulike kisike,
kā nu tvaṁ idha tiṭṭhasī”ti.
“Ahaṁ mattā tuvaṁ tissā,
sapattī te pure ahuṁ;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Caṇḍī ca pharusā cāsiṁ,
issukī maccharī saṭhā;
Tāhaṁ duruttaṁ vatvāna,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Sabbaṁ ahampi jānāmi,
yathā tvaṁ caṇḍikā ahu;
Aññañca kho taṁ pucchāmi,
kenāsi paṁsukunthitā”ti.
“Sīsaṁnhātā tuvaṁ āsi,
sucivatthā alaṅkatā;
Ahañca kho adhimattaṁ,
samalaṅkatatarā tayā.
Tassā me pekkhamānāya,
sāmikena samantayi;
Tato me issā vipulā,
kodho me samajāyatha.
Tato paṁsuṁ gahetvāna,
paṁsunā taṁ hi okiriṁ;
Tassa kammavipākena,
tenamhi paṁsukunthitā”ti.
“Sabbaṁ ahampi jānāmi,
paṁsunā maṁ tvamokiri;
Aññañca kho taṁ pucchāmi,
kena khajjasi kacchuyā”ti.
“Bhesajjahārī ubhayo,
vanantaṁ agamimhase;
Tvañca bhesajjamāhari,
ahañca kapikacchuno.
Tassā tyājānamānāya,
seyyaṁ tyāhaṁ samokiriṁ;
Tassa kammavipākena,
tena khajjāmi kacchuyā”ti.
“Sabbaṁ ahampi jānāmi,
seyyaṁ me tvaṁ samokiri;
Aññañca kho taṁ pucchāmi,
kenāsi naggiyā tuvan”ti.
“Sahāyānaṁ samayo āsi,
ñātīnaṁ samitī ahu;
Tvañca āmantitā āsi,
sasāminī no ca kho ahaṁ.
Tassā tyājānamānāya,
dussaṁ tyāhaṁ apānudiṁ;
Tassa kammavipākena,
tenamhi naggiyā ahan”ti.
“Sabbaṁ ahampi jānāmi,
dussaṁ me tvaṁ apānudi;
Aññañca kho taṁ pucchāmi,
kenāsi gūthagandhinī”ti.
“Tava gandhañca mālañca,
paccagghañca vilepanaṁ;
Gūthakūpe atāresiṁ,
taṁ pāpaṁ pakataṁ mayā;
Tassa kammavipākena,
tenamhi gūthagandhinī”ti.
“Sabbaṁ ahampi jānāmi,
taṁ pāpaṁ pakataṁ tayā;
Aññañca kho taṁ pucchāmi,
kenāsi duggatā tuvan”ti.
“Ubhinnaṁ samakaṁ āsi,
yaṁ gehe vijjate dhanaṁ;
Santesu deyyadhammesu,
dīpaṁ nākāsimattano;
Tassa kammavipākena,
tenamhi duggatā ahaṁ.
Tadeva maṁ tvaṁ avaca,
‘pāpakammaṁ nisevasi;
Na hi pāpehi kammehi,
sulabhā hoti suggatī’”ti.
“Vāmato maṁ tvaṁ paccesi,
athopi maṁ usūyasi;
Passa pāpānaṁ kammānaṁ,
vipāko hoti yādiso.
Te gharā tā ca dāsiyo,
tānevābharaṇānime;
Te aññe paricārenti,
na bhogā honti sassatā.
Idāni bhūtassa pitā,
āpaṇā gehamehiti;
Appeva te dade kiñci,
mā su tāva ito agā”ti.
“Naggā dubbaṇṇarūpāmhi,
kisā dhamanisanthatā;
Kopīnametaṁ itthīnaṁ,
mā maṁ bhūtapitāddasā”ti.
“Handa kiṁ vā tyāhaṁ dammi,
Kiṁ vā tedha karomahaṁ;
Yena tvaṁ sukhitā assa,
Sabbakāmasamiddhinī”ti.
“Cattāro bhikkhū saṅghato,
cattāro pana puggale;
Aṭṭha bhikkhū bhojayitvā,
mama dakkhiṇamādisa;
Tadāhaṁ sukhitā hessaṁ,
sabbakāmasamiddhinī”ti.
Sādhūti sā paṭissutvā,
bhojayitvāṭṭha bhikkhavo;
Vatthehacchādayitvāna,
tassā dakkhiṇamādisī.
Samanantarānuddiṭṭhe,
vipāko udapajjatha;
Bhojanacchādanapānīyaṁ,
dakkhiṇāya idaṁ phalaṁ.
Tato suddhā sucivasanā,
kāsikuttamadhārinī;
Vicittavatthābharaṇā,
sapattiṁ upasaṅkami.
“Abhikkantena vaṇṇena,
yā tvaṁ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
osadhī viya tārakā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
“Ahaṁ mattā tuvaṁ tissā,
sapattī te pure ahuṁ;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā.
Tava dinnena dānena,
modāmi akutobhayā;
Ciraṁ jīvāhi bhagini,
saha sabbehi ñātibhi;
Asokaṁ virajaṁ ṭhānaṁ,
āvāsaṁ vasavattinaṁ.
Idha dhammaṁ caritvāna,
Dānaṁ datvāna sobhane;
Vineyya maccheramalaṁ samūlaṁ,
Aninditā saggamupehi ṭhānan”ti.
Mattāpetivatthu tatiyaṁ.
A housewife named Tissa sees a female ghost and questions,
Tissa:
You are naked and very ugly, your veins are popping out. You thin person, with your ribs sticking out, who are you?
Matta (ghost):
My name is Matta, and you are Tissa. Don’t you remember? I was your husband’s other wife. I did lots of evil actions and was born in the ghost world.
Tissa:
Now what evil deed have you done by body, speech, or mind for you to have been born in the world of ghosts?
Matta:
I got angry easily and spoke harshly. I was very jealous, greedy, and cunning. Having used harsh words, I have been reborn in the world of ghosts.
Tissa:
Oh yes, I remember you. You were very violent those days. Let me ask you something else. Why are you covered in dirt?
Matta:
Do you remember one day, you had bathed and dressed in clean clothes? I wanted to be more beautiful than you, so I wore a more beautiful dress than yours. But I saw our husband talking and paying more attention to you rather than me. I was extremely jealous and got angry. I took some dirt from the ground and threw it at you. As a result of that bad deed, now I am covered in dirt.
Tissa:
Oh yes, I remember that day you threw dirt at me. Now let me ask something else. Why are you scratching your entire body?
Matta:
One day we both went into the forest to gather some medicinal herbs. You brought back medicinal herbs but I brought back plants that would make the body itchy. Secretly, I scattered them over your bed. As a result of that bad action, my body is always itchy.
Tissa:
Oh yes, I remember that morning when my body got very itchy. Here’s another question. Why are you naked?
Matta:
One day, when friends and relatives gathered for a party, you and our husband were invited while I was not. I was very jealous and stole the clothes that you were going to wear to the party. This is why now I am naked.
Tissa:
Yes, yes, I remember when you stole my clothes that night. I have another question. Why do you smell of excrement?
Matta:
You had nice perfumes, cosmetics, and necklaces made of flowers. I threw them into a pile of excrement. This is why now I am very smelly.
Tissa:
Yes, I also remember when I found my perfumes, cosmetics and flower necklaces in a pile of excrement. I would also like to ask you, why do you suffer so much?
Matta:
The wealth in our house was equally shared among us. But I did not collect much merit, therefore I have to suffer now. You warned me saying, “You are doing evil things. Happiness will not come from evil!”
Tissa:
You mistook me for an enemy when I was trying to help. You were also very jealous of me. Now you can see the result of your evil. You had maids and servants in the house and plenty of jewelry, but now they are used by others. Wealth is not eternal.
Bhuta’s father is coming home from the market soon, maybe he will give you something. Do not go anywhere; wait until he comes.
Matta:
I am naked and very ugly with veins popping out. It is embarrassing for a woman to be like this. Do not let Bhuta’s father see me.
Tissa:
Ok then, what can I give or do for you which can make you happy and gain what you want.
Matta:
Invite four monks as a group and four individually. Offer alms to these eight monks and dedicate the merit to me. Then I will be happy and gain what I want.
Tissa:
Ok, I will.
She offered alms and robes to eight monks and dedicated the merit to Matta. The result of this donation immediately took effect in the form of food, drink, and clothing for the ghost. She became pure, wearing the cleanest and finest clothes with jewelry and then approached Tissa.
Tissa:
Who are you, with heavenly beauty, shining in all directions like a star? Why are you so beautiful? What merit have you collected when you were a human?
Matta:
My name is Matta, and you are Tissa. Don’t you remember? I was your husband’s other wife. I did lots of evil actions and was born in the ghost world. But I am very happy now, rejoicing in your gift. I do not fear anything.
May you live long, my sister, happily with all your relatives!
Tissa:
Yes sister, one should practice the Dhamma and be generous by giving alms. The person who does this will be reborn in heaven where there is no sorrow.
BJT 134“Này cô nàng lòi cả xương sườn, gầy guộc, nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân?”
BJT 135“Tôi là Mattā, cô là Tissā, trước đây tôi đã là người vợ chung chồng với cô. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 136“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà từ nơi đây chị đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 137“Tôi đã là người nhẫn tâm, thô lỗ, ganh tỵ, bỏn xẻn, và xảo quyệt. Sau khi nói lời tồi tệ với cô, tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 138“Em cũng biết tất cả, chị đã là người nhẫn tâm như thế nào. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị bị bao phủ bởi bụi đất?”
BJT 139“Cô đã gội đầu xong, có y phục sạch sẽ, đã được trang điểm, và tôi còn hơn cả cô, đã được trang điểm hơn cả cô.
BJT 140Cô đã chuyện trò với chồng trong khi tôi đây đang quan sát; vì thế, tôi đã có sự ganh tỵ lớn lao, sự phẫn nộ đã nổi lên ở tôi.
BJT 141Kế đó, tôi đã hốt bụi đất và đã trút bụi đất xuống chính cô; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi bị bao phủ bởi bụi đất.”
BJT 142“Em cũng biết tất cả, chị đã trút bụi đất xuống em. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị bị day dứt bởi mụn ghẻ?”
BJT 143“Là những người thu hái dược liệu, cả hai chúng ta đã đi vào trong rừng. Cô đã thu hái dược liệu, còn tôi đã thu hái loại cây kapikacchu.
BJT 144Trong khi cô đây không hay biết, tôi đã rải rắc (kapikacchu) xuống giường của cô; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi bị day dứt bởi mụn ghẻ.”
BJT 145“Em cũng biết tất cả, chị đã rải rắc (kapikacchu) xuống giường của em. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị bị lõa lồ?”
BJT 146“Đã có cuộc gặp gỡ của các thân hữu, là cuộc hội họp của các thân quyến, và cô đã được mời cùng với người chồng (chung), còn tôi thì không.
BJT 147Trong khi cô đây không hay biết, tôi đã giấu đi y phục của cô; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi bị lõa lồ.”
BJT 148“Em cũng biết tất cả, chị đã giấu đi y phục của em. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị có mùi của phân?”
BJT 149“Tôi đã ném bỏ vật thơm, tràng hoa, và dầu thoa đắt giá của cô vào hố phân, việc xấu xa ấy đã do tôi gây ra; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi có mùi của phân.”
BJT 150“Em cũng biết tất cả, việc xấu xa ấy đã do chị gây ra. Nhưng giờ em hỏi chị việc khác, do việc gì chị bị đọa vào khổ cảnh?”
BJT 151“Tài sản hiện có trong nhà đã là thuộc về cả hai một cách bình đẳng. Trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, tôi đã không tạo lập hòn đảo (nương nhờ) cho bản thân; do quả thành tựu của nghiệp ấy, do việc ấy tôi bị đọa vào khổ cảnh.
BJT 152Chính vào lúc ấy, cô đã nói với tôi rằng: ‘Chị theo đuổi nghiệp ác, bởi vì với những nghiệp ác, nhàn cảnh là không dễ đạt được.’”
BJT 153“Chị đến với em bằng cách chống đối, và còn ganh tỵ với em nữa. Chị hãy nhìn xem quả thành tựu của những nghiệp ác là như thế nào.
BJT 154Nhà cửa và các tớ gái ấy, luôn cả các đồ trang sức này đã là của chị, và chúng đang phục vụ những kẻ khác; các của cải là không trường cửu.
BJT 155Giờ này, cha của Bhūta từ chợ đi về nhà có lẽ sẽ bố thí cho chị vật gì đó; cho đến khi ấy chị chớ rời khỏi đây.”
BJT 156“Tôi thì lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, gầy guộc, nổi đầy gân. Việc này là điều xấu hổ của hàng phụ nữ; chớ để cha của Bhūta nhìn thấy tôi.”
BJT 157“Nào, vật gì em sẽ biếu chị, hoặc là điều gì em làm cho chị, qua đó chị có thể được hạnh phúc, có sự thành tựu mọi điều mong mỏi?”
BJT 158“Bốn vị tỳ khưu (thỉnh) từ Hội Chúng, và bốn vị nữa (thỉnh) cá nhân, sau khi dâng bữa ăn đến tám vị tỳ khưu, hãy chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu mọi điều mong mỏi.”
BJT 159“Tốt lắm!” Sau khi thỏa thuận, nàng ấy đã dâng bữa ăn đến tám vị tỳ khưu, đã khoác lên (các vị) với những tấm vải, rồi đã chỉ định sự cúng dường là dành cho nữ ngạ quỷ ấy.
BJT 160Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, y phục, nước uống; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 161Do đó, nàng ấy (nữ ngạ quỷ) trở nên sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải hạng nhất của xứ Kāsī, có các đồ trang sức và các tấm vải nhiều màu sắc, đã đi đến gặp người nữ có chung chồng.
BJT 162“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 163Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 164Hỡi nàng tiên có đại oai lực, tôi hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 165“Tôi là Mattā, cô là Tissā, trước đây tôi đã là người vợ có chung chồng với cô. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 166Nhờ vào vật thí đã được cô dâng cúng, tôi vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Này em gái, mong rằng cô sống thọ cùng với tất cả thân quyến.
BJT 167Nơi chốn không sầu muộn, xa lìa luyến ái, là chỗ trú ngụ của các vị có quyền lực. Này người đẹp, ở đây sau khi thực hành Giáo Pháp, sau khi dâng cúng vật thí, sau khi loại trừ ô nhiễm của sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, không bị chê trách, mong rằng cô đi đến nơi chốn cõi Trời.”
Chuyện Ngạ Quỷ Mattā là thứ ba.
“Naggā dubbaṇṇarūpāsi,
kisā dhamanisanthatā;
Upphāsulike kisike,
kā nu tvaṁ idha tiṭṭhasī”ti.
“Ahaṁ mattā tuvaṁ tissā,
sapattī te pure ahuṁ;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Caṇḍī ca pharusā cāsiṁ,
issukī maccharī saṭhā;
Tāhaṁ duruttaṁ vatvāna,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Sabbaṁ ahampi jānāmi,
yathā tvaṁ caṇḍikā ahu;
Aññañca kho taṁ pucchāmi,
kenāsi paṁsukunthitā”ti.
“Sīsaṁnhātā tuvaṁ āsi,
sucivatthā alaṅkatā;
Ahañca kho adhimattaṁ,
samalaṅkatatarā tayā.
Tassā me pekkhamānāya,
sāmikena samantayi;
Tato me issā vipulā,
kodho me samajāyatha.
Tato paṁsuṁ gahetvāna,
paṁsunā taṁ hi okiriṁ;
Tassa kammavipākena,
tenamhi paṁsukunthitā”ti.
“Sabbaṁ ahampi jānāmi,
paṁsunā maṁ tvamokiri;
Aññañca kho taṁ pucchāmi,
kena khajjasi kacchuyā”ti.
“Bhesajjahārī ubhayo,
vanantaṁ agamimhase;
Tvañca bhesajjamāhari,
ahañca kapikacchuno.
Tassā tyājānamānāya,
seyyaṁ tyāhaṁ samokiriṁ;
Tassa kammavipākena,
tena khajjāmi kacchuyā”ti.
“Sabbaṁ ahampi jānāmi,
seyyaṁ me tvaṁ samokiri;
Aññañca kho taṁ pucchāmi,
kenāsi naggiyā tuvan”ti.
“Sahāyānaṁ samayo āsi,
ñātīnaṁ samitī ahu;
Tvañca āmantitā āsi,
sasāminī no ca kho ahaṁ.
Tassā tyājānamānāya,
dussaṁ tyāhaṁ apānudiṁ;
Tassa kammavipākena,
tenamhi naggiyā ahan”ti.
“Sabbaṁ ahampi jānāmi,
dussaṁ me tvaṁ apānudi;
Aññañca kho taṁ pucchāmi,
kenāsi gūthagandhinī”ti.
“Tava gandhañca mālañca,
paccagghañca vilepanaṁ;
Gūthakūpe atāresiṁ,
taṁ pāpaṁ pakataṁ mayā;
Tassa kammavipākena,
tenamhi gūthagandhinī”ti.
“Sabbaṁ ahampi jānāmi,
taṁ pāpaṁ pakataṁ tayā;
Aññañca kho taṁ pucchāmi,
kenāsi duggatā tuvan”ti.
“Ubhinnaṁ samakaṁ āsi,
yaṁ gehe vijjate dhanaṁ;
Santesu deyyadhammesu,
dīpaṁ nākāsimattano;
Tassa kammavipākena,
tenamhi duggatā ahaṁ.
Tadeva maṁ tvaṁ avaca,
‘pāpakammaṁ nisevasi;
Na hi pāpehi kammehi,
sulabhā hoti suggatī’”ti.
“Vāmato maṁ tvaṁ paccesi,
athopi maṁ usūyasi;
Passa pāpānaṁ kammānaṁ,
vipāko hoti yādiso.
Te gharā tā ca dāsiyo,
tānevābharaṇānime;
Te aññe paricārenti,
na bhogā honti sassatā.
Idāni bhūtassa pitā,
āpaṇā gehamehiti;
Appeva te dade kiñci,
mā su tāva ito agā”ti.
“Naggā dubbaṇṇarūpāmhi,
kisā dhamanisanthatā;
Kopīnametaṁ itthīnaṁ,
mā maṁ bhūtapitāddasā”ti.
“Handa kiṁ vā tyāhaṁ dammi,
Kiṁ vā tedha karomahaṁ;
Yena tvaṁ sukhitā assa,
Sabbakāmasamiddhinī”ti.
“Cattāro bhikkhū saṅghato,
cattāro pana puggale;
Aṭṭha bhikkhū bhojayitvā,
mama dakkhiṇamādisa;
Tadāhaṁ sukhitā hessaṁ,
sabbakāmasamiddhinī”ti.
Sādhūti sā paṭissutvā,
bhojayitvāṭṭha bhikkhavo;
Vatthehacchādayitvāna,
tassā dakkhiṇamādisī.
Samanantarānuddiṭṭhe,
vipāko udapajjatha;
Bhojanacchādanapānīyaṁ,
dakkhiṇāya idaṁ phalaṁ.
Tato suddhā sucivasanā,
kāsikuttamadhārinī;
Vicittavatthābharaṇā,
sapattiṁ upasaṅkami.
“Abhikkantena vaṇṇena,
yā tvaṁ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
osadhī viya tārakā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
“Ahaṁ mattā tuvaṁ tissā,
sapattī te pure ahuṁ;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā.
Tava dinnena dānena,
modāmi akutobhayā;
Ciraṁ jīvāhi bhagini,
saha sabbehi ñātibhi;
Asokaṁ virajaṁ ṭhānaṁ,
āvāsaṁ vasavattinaṁ.
Idha dhammaṁ caritvāna,
Dānaṁ datvāna sobhane;
Vineyya maccheramalaṁ samūlaṁ,
Aninditā saggamupehi ṭhānan”ti.
Mattāpetivatthu tatiyaṁ.