BJT 344“Trước đây, thiếp đã dâng cúng chỉ sợi đến bậc xuất gia là vị tỳ khưu đã đi đến yêu cầu. Quả thành tựu của việc ấy là quả báo dồi dào được thành tựu, và nhiều koṭi vải vóc được phát sanh đến thiếp.’
BJT 345Thiên cung được rải rắc bông hoa, được vui sướng, có nhiều tranh vẽ, được các người nam người nữ lai vãng. Thiếp đây hưởng thụ và choàng đắp (vải vóc); có nhiều của cải và còn chưa đến lúc bị cạn kiệt.
BJT 346Tiếp theo quả thành tựu của chính nghiệp ấy, có sự an lạc và thoải mái được thành tựu ở nơi đây. Thiếp đây, sau khi đi đến cõi nhân loại thêm lần nữa, sẽ làm các việc phước thiện. Thưa công tử, hãy đưa thiếp về.”
BJT 347“Nàng đã đến đây được bảy trăm năm. Ở nơi ấy, nàng sẽ là người già nua và trưởng thượng, hết thảy tất cả thân quyến của nàng đã từ trần. Nàng sẽ làm gì sau khi từ đây đi đến nơi ấy?”
BJT 348“Thiếp đã đi đến nơi này chỉ mới bảy năm, thiếp đã có được sự an lạc của cõi Trời. Thiếp đây, sau khi đi đến cõi nhân loại thêm lần nữa, sẽ làm các việc phước thiện. Thưa công tử, hãy đưa thiếp về.”
BJT 349Sau khi đã nắm lấy nàng một cách chắc chắn ở cánh tay, vị ấy đã đưa nàng, (nay là) bà lão vô cùng yếu ớt, trở về (dặn rằng): “Nàng hãy nói với những người khác nữa đã đi đến nơi này rằng: ‘Quý vị hãy làm các việc phước thiện, sự an lạc (sẽ) được thành tựu.
BJT 350Tôi đã nhìn thấy các ngạ quỷ bị sầu khổ do không làm việc tốt lành, loài người cũng tương tự như vậy. Và sau khi tạo nghiệp đưa đến cảm thọ an lạc, chư Thiên và nhân loại là dòng dõi trụ vững trong sự an lạc.’”
Chuyện Ngạ Quỷ Sợi Chỉ là thứ mười một.
“Ahaṁ pure pabbajitassa bhikkhuno,
Suttaṁ adāsiṁ upasaṅkamma yācitā;
Tassa vipāko vipulaphalūpalabbhati,
Bahukā ca me uppajjare vatthakoṭiyo.
Pupphābhikiṇṇaṁ ramitaṁ vimānaṁ,
Anekacittaṁ naranārisevitaṁ;
Sāhaṁ bhuñjāmi ca pārupāmi ca,
Pahūtavittā na ca tāva khīyati.
Tasseva kammassa vipākamanvayā,
Sukhañca sātañca idhūpalabbhati;
Sāhaṁ gantvā punadeva mānusaṁ,
Kāhāmi puññāni nayayyaputta man”ti.
“Satta tuvaṁ vassasatā idhāgatā,
Jiṇṇā ca vuḍḍhā ca tahiṁ bhavissasi;
Sabbeva te kālakatā ca ñātakā,
Kiṁ tattha gantvāna ito karissasī”ti.
“Satteva vassāni idhāgatāya me,
Dibbañca sukhañca samappitāya;
Sāhaṁ gantvāna punadeva mānusaṁ,
Kāhāmi puññāni nayayyaputta man”ti.
So taṁ gahetvāna pasayha bāhāyaṁ,
Paccānayitvāna theriṁ sudubbalaṁ;
“Vajjesi aññampi janaṁ idhāgataṁ,
‘Karotha puññāni sukhūpalabbhati’.
Diṭṭhā mayā akatena sādhunā,
Petā vihaññanti tatheva manussā;
Kammañca katvā sukhavedanīyaṁ,
Devā manussā ca sukhe ṭhitā pajā”ti.
Suttapetavatthu ekādasamaṁ.
English translation not yet available.
BJT 344“Trước đây, thiếp đã dâng cúng chỉ sợi đến bậc xuất gia là vị tỳ khưu đã đi đến yêu cầu. Quả thành tựu của việc ấy là quả báo dồi dào được thành tựu, và nhiều koṭi vải vóc được phát sanh đến thiếp.’
BJT 345Thiên cung được rải rắc bông hoa, được vui sướng, có nhiều tranh vẽ, được các người nam người nữ lai vãng. Thiếp đây hưởng thụ và choàng đắp (vải vóc); có nhiều của cải và còn chưa đến lúc bị cạn kiệt.
BJT 346Tiếp theo quả thành tựu của chính nghiệp ấy, có sự an lạc và thoải mái được thành tựu ở nơi đây. Thiếp đây, sau khi đi đến cõi nhân loại thêm lần nữa, sẽ làm các việc phước thiện. Thưa công tử, hãy đưa thiếp về.”
BJT 347“Nàng đã đến đây được bảy trăm năm. Ở nơi ấy, nàng sẽ là người già nua và trưởng thượng, hết thảy tất cả thân quyến của nàng đã từ trần. Nàng sẽ làm gì sau khi từ đây đi đến nơi ấy?”
BJT 348“Thiếp đã đi đến nơi này chỉ mới bảy năm, thiếp đã có được sự an lạc của cõi Trời. Thiếp đây, sau khi đi đến cõi nhân loại thêm lần nữa, sẽ làm các việc phước thiện. Thưa công tử, hãy đưa thiếp về.”
BJT 349Sau khi đã nắm lấy nàng một cách chắc chắn ở cánh tay, vị ấy đã đưa nàng, (nay là) bà lão vô cùng yếu ớt, trở về (dặn rằng): “Nàng hãy nói với những người khác nữa đã đi đến nơi này rằng: ‘Quý vị hãy làm các việc phước thiện, sự an lạc (sẽ) được thành tựu.
BJT 350Tôi đã nhìn thấy các ngạ quỷ bị sầu khổ do không làm việc tốt lành, loài người cũng tương tự như vậy. Và sau khi tạo nghiệp đưa đến cảm thọ an lạc, chư Thiên và nhân loại là dòng dõi trụ vững trong sự an lạc.’”
Chuyện Ngạ Quỷ Sợi Chỉ là thứ mười một.
“Ahaṁ pure pabbajitassa bhikkhuno,
Suttaṁ adāsiṁ upasaṅkamma yācitā;
Tassa vipāko vipulaphalūpalabbhati,
Bahukā ca me uppajjare vatthakoṭiyo.
Pupphābhikiṇṇaṁ ramitaṁ vimānaṁ,
Anekacittaṁ naranārisevitaṁ;
Sāhaṁ bhuñjāmi ca pārupāmi ca,
Pahūtavittā na ca tāva khīyati.
Tasseva kammassa vipākamanvayā,
Sukhañca sātañca idhūpalabbhati;
Sāhaṁ gantvā punadeva mānusaṁ,
Kāhāmi puññāni nayayyaputta man”ti.
“Satta tuvaṁ vassasatā idhāgatā,
Jiṇṇā ca vuḍḍhā ca tahiṁ bhavissasi;
Sabbeva te kālakatā ca ñātakā,
Kiṁ tattha gantvāna ito karissasī”ti.
“Satteva vassāni idhāgatāya me,
Dibbañca sukhañca samappitāya;
Sāhaṁ gantvāna punadeva mānusaṁ,
Kāhāmi puññāni nayayyaputta man”ti.
So taṁ gahetvāna pasayha bāhāyaṁ,
Paccānayitvāna theriṁ sudubbalaṁ;
“Vajjesi aññampi janaṁ idhāgataṁ,
‘Karotha puññāni sukhūpalabbhati’.
Diṭṭhā mayā akatena sādhunā,
Petā vihaññanti tatheva manussā;
Kammañca katvā sukhavedanīyaṁ,
Devā manussā ca sukhe ṭhitā pajā”ti.
Suttapetavatthu ekādasamaṁ.