BJT 116“Này cô nàng lòi cả xương sườn, gầy guộc, nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân?”
BJT 117“Tôi là mẹ của ngài trong những kiếp sống khác trước đây, đã bị sanh vào cảnh giới ngạ quỷ, bị gánh chịu sự đói khát.
BJT 118-119Bị tác động bởi cơn đói, tôi ăn vật thuộc về người nữ và người nam: vật bị ói ra, vật bị khạc nhổ, nước miếng, nước mũi, đờm dãi, mỡ béo của những thi thể đang bị đốt cháy, và máu của những phụ nữ đang sanh, máu của những vết thương và của những vết cắt ở lỗ mũi và ở đầu.
BJT 120Tôi có thức ăn là mủ máu của những loài thú nuôi và của những con người, không chốn nương tựa, và không nơi cư trú, có chỗ nghỉ ngơi là chiếc giường xám xanh (dùng khiêng tử thi).
BJT 121Này con trai, hãy cho tôi vật thí, sau khi bố thí xin ngài hãy chỉ định (việc ấy là) dành cho tôi; được như thế thì tôi có thể thoát khỏi việc thọ thực mủ và máu.”
BJT 122Sau khi lắng nghe lời nói của người mẹ, vị Upatissa, bậc có lòng thương tưởng, đã thỉnh ý các vị Moggallāna, Anuruddha, và Kappina.
BJT 123Sau khi thực hiện bốn liêu cốc, vị ấy đã dâng các liêu cốc và cơm ăn nước uống đến Hội Chúng bốn phương; vị ấy đã chỉ định sự cúng dường là dành cho người mẹ.
BJT 124Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, nước uống, vải vóc; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 125Do đó, nàng ấy (nữ ngạ quỷ) trở nên sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải hạng nhất của xứ Kāsī, có các đồ trang sức và các tấm vải nhiều màu sắc, đã đi đến gặp vị Kolita.
BJT 126“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 127Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 128Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 129“Tôi là mẹ của Sāriputta trong những kiếp sống khác trước đây, đã bị sanh vào cảnh giới ngạ quỷ, bị gánh chịu sự đói khát.
BJT 130-131Bị tác động bởi cơn đói, tôi ăn vật thuộc về người nữ và người nam: vật bị ói ra, vật bị khạc nhổ, nước miếng, nước mũi, đờm dãi, mỡ béo của những thi thể đang bị đốt cháy, và máu của những phụ nữ đang sanh, máu của những vết thương và của những vết cắt ở lỗ mũi và ở đầu.
BJT 132Tôi có thức ăn là mủ máu của những loài thú nuôi và của những con người, không chốn nương tựa, và không nơi cư trú, có chỗ nghỉ ngơi là chiếc giường xám xanh (dùng khiêng tử thi).
BJT 133Nhờ vào sự bố thí của Sāriputta, tôi vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Thưa ngài, tôi đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.”
Chuyện Ngạ Quỷ—Mẹ của Trưởng Lão Sāriputta là thứ nhì.
“Naggā dubbaṇṇarūpāsi,
kisā dhamanisanthatā;
Upphāsulike kisike,
kā nu tvaṁ idha tiṭṭhasi”.
“Ahaṁ te sakiyā mātā,
pubbe aññāsu jātīsu;
Upapannā pettivisayaṁ,
khuppipāsasamappitā.
Chaḍḍitaṁ khipitaṁ kheḷaṁ,
siṅghāṇikaṁ silesumaṁ;
Vasañca ḍayhamānānaṁ,
vijātānañca lohitaṁ.
Vaṇikānañca yaṁ ghāna-
sīsacchinnāna lohitaṁ;
Khudāparetā bhuñjāmi,
itthipurisanissitaṁ.
Pubbalohitaṁ bhakkhāmi,
pasūnaṁ mānusāna ca;
Aleṇā anagārā ca,
nīlamañcaparāyaṇā.
Dehi puttaka me dānaṁ,
datvā anvādisāhi me;
Appeva nāma mucceyyaṁ,
pubbalohitabhojanā”ti.
Mātuyā vacanaṁ sutvā,
upatissonukampako;
Āmantayi moggallānaṁ,
anuruddhañca kappinaṁ.
Catasso kuṭiyo katvā,
saṅghe cātuddise adā;
Kuṭiyo annapānañca,
mātu dakkhiṇamādisī.
Samanantarānuddiṭṭhe,
vipāko udapajjatha;
Bhojanaṁ pānīyaṁ vatthaṁ,
dakkhiṇāya idaṁ phalaṁ.
Tato suddhā sucivasanā,
kāsikuttamadhārinī;
Vicittavatthābharaṇā,
kolitaṁ upasaṅkami.
“Abhikkantena vaṇṇena,
yā tvaṁ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
osadhī viya tārakā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
“Sāriputtassāhaṁ mātā,
pubbe aññāsu jātīsu;
Upapannā pettivisayaṁ,
khuppipāsasamappitā.
Chaḍḍitaṁ khipitaṁ kheḷaṁ,
siṅghāṇikaṁ silesumaṁ;
Vasañca ḍayhamānānaṁ,
vijātānañca lohitaṁ.
Vaṇikānañca yaṁ ghāna-
sīsacchinnāna lohitaṁ;
Khudāparetā bhuñjāmi,
itthipurisanissitaṁ.
Pubbalohitaṁ bhakkhissaṁ,
pasūnaṁ mānusāna ca;
Aleṇā anagārā ca,
nīlamañcaparāyaṇā.
Sāriputtassa dānena,
modāmi akutobhayā;
Muniṁ kāruṇikaṁ loke,
bhante vanditumāgatā”ti.
Sāriputtattherassa mātupetivatthu dutiyaṁ.
Sariputta Bhante sees a female ghost and asks,
Sariputta Bhante:
You are naked and very ugly. Your veins are popping out. You thin person, with your ribs sticking out, who are you?
Ghost:
I was your mother in a previous life. Now I am living in the ghost world suffering from hunger and thirst. My food is saliva, mucus, phlegm, the fat of burning bodies, the blood of women giving birth, blood of wounds, pus, and the blood from shaving wounds. I can only feed on the pus and blood of humans and animals. I do not have of a house of my own, therefore I stay in the cemetery. Oh my son, please offer alms to monks and dedicate that merit to me. Then I will be free from eating pus and blood.
Having heard what his mother said, the compassionate Sariputta Bhante called Moggallana Bhante, Narada Bhante, and Kappina Bhante. Sariputta Bhante built four huts and offered those huts along with food and drink to the whole community of monks and dedicated the merit to his mother.
The result of this donation immediately took effect in the form of food, drink, and clothing for the ghost. She became pure, wearing the cleanest and finest clothes with jewelry. Then she approached Moggallana Bhante.
Moggallana Bhante:
Who are you, with heavenly beauty, shining in all directions like a star? Why are you so beautiful? What merit have you collected when you were a human?
Ghost:
I was your mother in a previous live. I was reborn in the ghost world suffering from hunger and thirst. My food was saliva, mucus, phlegm, the fat of burning bodies, the blood of women giving birth, the blood of wounds, pus, and the blood from shaving wounds. I could only feed on the pus and blood of humans and animals. I did not have a house of my own, therefore I stayed in the cemetery.
I am very happy now, rejoicing in Sariputta Bhante’s gift. I do not fear anything. I have come here to worship the compassionate Sariputta Bhante.
BJT 116“Này cô nàng lòi cả xương sườn, gầy guộc, nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân?”
BJT 117“Tôi là mẹ của ngài trong những kiếp sống khác trước đây, đã bị sanh vào cảnh giới ngạ quỷ, bị gánh chịu sự đói khát.
BJT 118-119Bị tác động bởi cơn đói, tôi ăn vật thuộc về người nữ và người nam: vật bị ói ra, vật bị khạc nhổ, nước miếng, nước mũi, đờm dãi, mỡ béo của những thi thể đang bị đốt cháy, và máu của những phụ nữ đang sanh, máu của những vết thương và của những vết cắt ở lỗ mũi và ở đầu.
BJT 120Tôi có thức ăn là mủ máu của những loài thú nuôi và của những con người, không chốn nương tựa, và không nơi cư trú, có chỗ nghỉ ngơi là chiếc giường xám xanh (dùng khiêng tử thi).
BJT 121Này con trai, hãy cho tôi vật thí, sau khi bố thí xin ngài hãy chỉ định (việc ấy là) dành cho tôi; được như thế thì tôi có thể thoát khỏi việc thọ thực mủ và máu.”
BJT 122Sau khi lắng nghe lời nói của người mẹ, vị Upatissa, bậc có lòng thương tưởng, đã thỉnh ý các vị Moggallāna, Anuruddha, và Kappina.
BJT 123Sau khi thực hiện bốn liêu cốc, vị ấy đã dâng các liêu cốc và cơm ăn nước uống đến Hội Chúng bốn phương; vị ấy đã chỉ định sự cúng dường là dành cho người mẹ.
BJT 124Khi được chỉ định thì quả thành tựu đã được sanh lên ngay lập tức: vật thực, nước uống, vải vóc; quả báo này là do sự cúng dường.
BJT 125Do đó, nàng ấy (nữ ngạ quỷ) trở nên sạch sẽ, có y phục tinh khiết, có sự trang phục bằng vải hạng nhất của xứ Kāsī, có các đồ trang sức và các tấm vải nhiều màu sắc, đã đi đến gặp vị Kolita.
BJT 126“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 127Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 128Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 129“Tôi là mẹ của Sāriputta trong những kiếp sống khác trước đây, đã bị sanh vào cảnh giới ngạ quỷ, bị gánh chịu sự đói khát.
BJT 130-131Bị tác động bởi cơn đói, tôi ăn vật thuộc về người nữ và người nam: vật bị ói ra, vật bị khạc nhổ, nước miếng, nước mũi, đờm dãi, mỡ béo của những thi thể đang bị đốt cháy, và máu của những phụ nữ đang sanh, máu của những vết thương và của những vết cắt ở lỗ mũi và ở đầu.
BJT 132Tôi có thức ăn là mủ máu của những loài thú nuôi và của những con người, không chốn nương tựa, và không nơi cư trú, có chỗ nghỉ ngơi là chiếc giường xám xanh (dùng khiêng tử thi).
BJT 133Nhờ vào sự bố thí của Sāriputta, tôi vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu. Thưa ngài, tôi đi đến để đảnh lễ bậc hiền trí, đấng bi mẫn ở thế gian.”
Chuyện Ngạ Quỷ—Mẹ của Trưởng Lão Sāriputta là thứ nhì.
“Naggā dubbaṇṇarūpāsi,
kisā dhamanisanthatā;
Upphāsulike kisike,
kā nu tvaṁ idha tiṭṭhasi”.
“Ahaṁ te sakiyā mātā,
pubbe aññāsu jātīsu;
Upapannā pettivisayaṁ,
khuppipāsasamappitā.
Chaḍḍitaṁ khipitaṁ kheḷaṁ,
siṅghāṇikaṁ silesumaṁ;
Vasañca ḍayhamānānaṁ,
vijātānañca lohitaṁ.
Vaṇikānañca yaṁ ghāna-
sīsacchinnāna lohitaṁ;
Khudāparetā bhuñjāmi,
itthipurisanissitaṁ.
Pubbalohitaṁ bhakkhāmi,
pasūnaṁ mānusāna ca;
Aleṇā anagārā ca,
nīlamañcaparāyaṇā.
Dehi puttaka me dānaṁ,
datvā anvādisāhi me;
Appeva nāma mucceyyaṁ,
pubbalohitabhojanā”ti.
Mātuyā vacanaṁ sutvā,
upatissonukampako;
Āmantayi moggallānaṁ,
anuruddhañca kappinaṁ.
Catasso kuṭiyo katvā,
saṅghe cātuddise adā;
Kuṭiyo annapānañca,
mātu dakkhiṇamādisī.
Samanantarānuddiṭṭhe,
vipāko udapajjatha;
Bhojanaṁ pānīyaṁ vatthaṁ,
dakkhiṇāya idaṁ phalaṁ.
Tato suddhā sucivasanā,
kāsikuttamadhārinī;
Vicittavatthābharaṇā,
kolitaṁ upasaṅkami.
“Abhikkantena vaṇṇena,
yā tvaṁ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
osadhī viya tārakā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
“Sāriputtassāhaṁ mātā,
pubbe aññāsu jātīsu;
Upapannā pettivisayaṁ,
khuppipāsasamappitā.
Chaḍḍitaṁ khipitaṁ kheḷaṁ,
siṅghāṇikaṁ silesumaṁ;
Vasañca ḍayhamānānaṁ,
vijātānañca lohitaṁ.
Vaṇikānañca yaṁ ghāna-
sīsacchinnāna lohitaṁ;
Khudāparetā bhuñjāmi,
itthipurisanissitaṁ.
Pubbalohitaṁ bhakkhissaṁ,
pasūnaṁ mānusāna ca;
Aleṇā anagārā ca,
nīlamañcaparāyaṇā.
Sāriputtassa dānena,
modāmi akutobhayā;
Muniṁ kāruṇikaṁ loke,
bhante vanditumāgatā”ti.
Sāriputtattherassa mātupetivatthu dutiyaṁ.