BJT 46“Tại sao con cắt cỏ xanh tươi rồi lảm nhảm với con bò già có mạng sống đã lìa rằng: ‘Ăn đi, hãy ăn đi,’ như là có vẻ điên khùng?
BJT 47Bởi vì con bò đã chết không sống lại được nhờ vào cơm ăn nước uống; con là kẻ ngu và đần độn, giống như bất cứ kẻ mất trí nào khác.”
BJT 48“Các chân này, cái đầu này, thân này với cái đuôi, những con mắt còn tồn tại y nguyên như thế; con bò này có thể sống lại được.
BJT 49Còn các tay chân, thân hình, và đầu của ông nội là không được nhìn thấy, trong khi khóc than ở đống đất chẳng phải chính cha mới là kẻ mất trí hay sao?”
BJT 50“Quả vậy, trong khi ta đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, ta có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống.
BJT 51Quả vậy, mũi tên sầu muộn cắm ở tim của ta đã được nhổ lên, trong khi ta bị ưu phiền vì nỗi sầu muộn, con đã xua tan nỗi sầu muộn về người cha cho ta.
BJT 52Ta đây, với mũi tên đã được rút ra, có được trạng thái mát mẻ, được an tịnh. Này chàng thanh niên, sau khi lắng nghe con, ta không sầu muộn, ta không khóc than.
BJT 53Những người có trí tuệ, những người có lòng thương tưởng hành động như thế. Họ giúp cho thoát khỏi cơn sầu muộn giống như Sujāta đối với người cha vậy.”
Chuyện Ngạ Quỷ Bò Đực là thứ tám.
“Kiṁ nu ummattarūpova,
lāyitvā haritaṁ tiṇaṁ;
Khāda khādāti lapasi,
gatasattaṁ jaraggavaṁ.
Na hi annena pānena,
mato goṇo samuṭṭhahe;
Tvaṁsi bālo ca dummedho,
yathā taññova dummatī”ti.
“Ime pādā idaṁ sīsaṁ,
ayaṁ kāyo savāladhi;
Nettā tatheva tiṭṭhanti,
ayaṁ goṇo samuṭṭhahe.
Nāyyakassa hatthapādā,
kāyo sīsañca dissati;
Rudaṁ mattikathūpasmiṁ,
nanu tvaññeva dummatī”ti.
“Ādittaṁ vata maṁ santaṁ,
ghatasittaṁva pāvakaṁ;
Vārinā viya osiñcaṁ,
sabbaṁ nibbāpaye daraṁ.
Abbahī vata me sallaṁ,
sokaṁ hadayanissitaṁ;
Yo me sokaparetassa,
pitusokaṁ apānudi.
Svāhaṁ abbūḷhasallosmi,
sītibhūtosmi nibbuto;
Na socāmi na rodāmi,
tava sutvāna māṇava”.
Evaṁ karonti sappaññā,
ye honti anukampakā;
Vinivattayanti sokamhā,
sujāto pitaraṁ yathāti.
Goṇapetavatthu aṭṭhamaṁ.
English translation not yet available.
BJT 46“Tại sao con cắt cỏ xanh tươi rồi lảm nhảm với con bò già có mạng sống đã lìa rằng: ‘Ăn đi, hãy ăn đi,’ như là có vẻ điên khùng?
BJT 47Bởi vì con bò đã chết không sống lại được nhờ vào cơm ăn nước uống; con là kẻ ngu và đần độn, giống như bất cứ kẻ mất trí nào khác.”
BJT 48“Các chân này, cái đầu này, thân này với cái đuôi, những con mắt còn tồn tại y nguyên như thế; con bò này có thể sống lại được.
BJT 49Còn các tay chân, thân hình, và đầu của ông nội là không được nhìn thấy, trong khi khóc than ở đống đất chẳng phải chính cha mới là kẻ mất trí hay sao?”
BJT 50“Quả vậy, trong khi ta đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, ta có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống.
BJT 51Quả vậy, mũi tên sầu muộn cắm ở tim của ta đã được nhổ lên, trong khi ta bị ưu phiền vì nỗi sầu muộn, con đã xua tan nỗi sầu muộn về người cha cho ta.
BJT 52Ta đây, với mũi tên đã được rút ra, có được trạng thái mát mẻ, được an tịnh. Này chàng thanh niên, sau khi lắng nghe con, ta không sầu muộn, ta không khóc than.
BJT 53Những người có trí tuệ, những người có lòng thương tưởng hành động như thế. Họ giúp cho thoát khỏi cơn sầu muộn giống như Sujāta đối với người cha vậy.”
Chuyện Ngạ Quỷ Bò Đực là thứ tám.
“Kiṁ nu ummattarūpova,
lāyitvā haritaṁ tiṇaṁ;
Khāda khādāti lapasi,
gatasattaṁ jaraggavaṁ.
Na hi annena pānena,
mato goṇo samuṭṭhahe;
Tvaṁsi bālo ca dummedho,
yathā taññova dummatī”ti.
“Ime pādā idaṁ sīsaṁ,
ayaṁ kāyo savāladhi;
Nettā tatheva tiṭṭhanti,
ayaṁ goṇo samuṭṭhahe.
Nāyyakassa hatthapādā,
kāyo sīsañca dissati;
Rudaṁ mattikathūpasmiṁ,
nanu tvaññeva dummatī”ti.
“Ādittaṁ vata maṁ santaṁ,
ghatasittaṁva pāvakaṁ;
Vārinā viya osiñcaṁ,
sabbaṁ nibbāpaye daraṁ.
Abbahī vata me sallaṁ,
sokaṁ hadayanissitaṁ;
Yo me sokaparetassa,
pitusokaṁ apānudi.
Svāhaṁ abbūḷhasallosmi,
sītibhūtosmi nibbuto;
Na socāmi na rodāmi,
tava sutvāna māṇava”.
Evaṁ karonti sappaññā,
ye honti anukampakā;
Vinivattayanti sokamhā,
sujāto pitaraṁ yathāti.
Goṇapetavatthu aṭṭhamaṁ.