BJT 471“Này cô nàng lòi cả xương sườn, gầy guộc, nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân?”
BJT 472“Thưa ông, tôi là nữ ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 473“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà nàng đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 474“Ở những bến tắm không bị ngăn cấm, tôi đã góp nhặt từng nửa đồng tiền māsaka. Trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, tôi đã không tạo lập hòn đảo (nương nhờ) cho bản thân.
BJT 475Bị khát (nước), tôi đi đến gần dòng sông thì dòng sông trở nên khô cạn. Vào những lúc nóng, tôi đi đến gần bóng râm thì bóng râm trở thành ánh nắng mặt trời.
BJT 476Và làn gió, với dáng vẻ của ngọn lửa, thổi đến đốt nóng tôi. Và thưa ngài, tôi xứng đáng với việc này và việc khác tồi tệ hơn thế ấy.
BJT 477Sau khi đi đến thành phố Hatthinī, ngài nên nói với mẹ của tôi rằng: ‘Tôi đã nhìn thấy con gái của bà; cô ta bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma.
BJT 478Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây cô ta đã đi đến thế giới ngạ quỷ.’ Và ở nơi đây có vật đã được tôi cất giấu, tôi đã không nói về điều ấy.
BJT 479Có bốn trăm ngàn ở bên dưới chiếc ghế dài. Nhờ đó, vì tôi bà ta hãy ban phát vật thí, và mong rằng bà ta có được sự sinh sống.
BJT 480Và sau khi ban phát vật thí, mẹ tôi hãy chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu tất cả các dục.”
BJT 481“Tốt lắm!” Sau khi thỏa thuận, vị ấy đã đi đến thành phố Hatthinī và đã nói với mẹ của cô ấy rằng: “Tôi đã nhìn thấy con gái của bà; cô ta bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma.
BJT 482Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây cô ta đã đi đến thế giới ngạ quỷ. Tại nơi đó, cô ấy đã thúc giục tôi:—Ngài nên nói với mẹ của tôi rằng:
BJT 483‘Tôi đã nhìn thấy con gái của bà; cô ta bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây cô ta đã đi đến thế giới ngạ quỷ.’
BJT 484Và ở nơi đây có vật đã được tôi cất giấu, và tôi đã không nói về điều ấy. Có bốn trăm ngàn ở bên dưới chiếc ghế dài. Nhờ đó, vì tôi bà ta hãy ban phát vật thí, và mong rằng bà ta có được sự sinh sống.
BJT 485Và sau khi ban phát vật thí, mẹ tôi hãy chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu tất cả các dục.”
BJT 486Chính vì thế, bà ấy đã ban phát vật thí, và sau khi ban phát đã chỉ định sự cúng dường là dành cho cô ấy. Và nữ ngạ quỷ đã được hạnh phúc, có thân xác, có dáng vẻ dễ mến.
Chuyện Ngạ Quỷ Seriṇī là thứ sáu.
“Naggā dubbaṇṇarūpāsi,
kisā dhamanisanthatā;
Upphāsulike kisike,
kā nu tvaṁ idha tiṭṭhasī”ti.
“Ahaṁ bhadante petīmhi,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Anāvaṭesu titthesu,
viciniṁ aḍḍhamāsakaṁ;
Santesu deyyadhammesu,
dīpaṁ nākāsimattano.
Nadiṁ upemi tasitā,
rittakā parivattati;
Chāyaṁ upemi uṇhesu,
ātapo parivattati.
Aggivaṇṇo ca me vāto,
ḍahanto upavāyati;
Etañca bhante arahāmi,
aññañca pāpakaṁ tato.
Gantvāna hatthiniṁ puraṁ,
vajjesi mayha mātaraṁ;
‘Dhītā ca te mayā diṭṭhā,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā’.
Atthi me ettha nikkhittaṁ,
anakkhātañca taṁ mayā;
Cattārisatasahassāni,
pallaṅkassa ca heṭṭhato.
Tato me dānaṁ dadatu,
tassā ca hotu jīvikā;
Dānaṁ datvā ca me mātā,
dakkhiṇaṁ anudicchatu;
Tadāhaṁ sukhitā hessaṁ,
sabbakāmasamiddhinī”ti.
“Sādhū”ti so paṭissutvā,
gantvāna hatthiniṁ puraṁ;
Avoca tassā mātaraṁ—
“Dhītā ca te mayā diṭṭhā,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā.
Sā maṁ tattha samādapesi, (…)
Vajjesi mayha mātaraṁ;
‘Dhītā ca te mayā diṭṭhā,
Duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
Petalokaṁ ito gatā.
Atthi ca me ettha nikkhittaṁ,
anakkhātañca taṁ mayā;
Cattārisatasahassāni,
pallaṅkassa ca heṭṭhato.
Tato me dānaṁ dadatu,
tassā ca hotu jīvikā;
Dānaṁ datvā ca me mātā,
dakkhiṇaṁ anudicchatu (…);
Tadāhaṁ sukhitā hessaṁ,
sabbakāmasamiddhinī’”ti.
Tato hi sā dānamadā,
tassā dakkhiṇamādisī;
Petī ca sukhitā āsi,
tassā cāsi sujīvikāti.
Seriṇīpetivatthu chaṭṭhaṁ.
Man:
You are naked, ugly, and very thin. Your ribs and veins are sticking out from your body. Who are you?
Female Ghost:
I am a ghost. I did evil deeds when I was in the human world. As a result, I have to suffer in the ghost world.
Man:
What evil deed have you committed by body speech or mind to make you suffer here?
Female Ghost:
In the human world, I had plenty of wealth and many opportunities to collect merit. But I was very greedy and did not give anything to anybody.
Now, as a result of my greed, if I get close to a river to drink, the river appears empty to me and full of sand. As I go towards the shade of a tree to rest, the spot becomes scorched by the sun. The wind feels like fire blowing on me, burning me. But I deserve all these sufferings because I have done lots of evil.
Please, could you go to the city of Hatthinipura, find my mother and tell her, “I have seen your daughter reborn in the miserable world of Yama because she did evil deeds.”
And also tell her that I collected four hundred thousand coins and hid them under the couch I slept on. I have not told anyone about it.
Ask her to take the money and use it for giving alms in my name. She should dedicate the merit of this gift to me. Then I will be happy and get whatever I want.
Man:
Very well.
The man went to the city of Hatthinipura, found the mother of the female ghost and spoke to her thus:
Man:
I have seen your daughter reborn in the miserable world of Yama because she did evil deeds. She told me to tell you that she has collected four hundred thousand coins and hid them under the couch she slept on. She has not told anyone about them.
She wants you to use that money for giving alms in her name. You should dedicate the merit of this gift to her. Then she will be happy and get whatever she wants.
The mother used the money to offer alms to monks and assigned the merit of the donation to her. The ghost became very happy and had a very beautiful body.
BJT 471“Này cô nàng lòi cả xương sườn, gầy guộc, nàng là ai mà đứng ở nơi đây, lõa lồ, có vóc dáng xấu xí, ốm o, nổi đầy gân?”
BJT 472“Thưa ông, tôi là nữ ngạ quỷ bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây tôi đã đi đến thế giới ngạ quỷ.”
BJT 473“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà nàng đã đi đến thế giới ngạ quỷ?”
BJT 474“Ở những bến tắm không bị ngăn cấm, tôi đã góp nhặt từng nửa đồng tiền māsaka. Trong khi các vật bố thí đang hiện hữu, tôi đã không tạo lập hòn đảo (nương nhờ) cho bản thân.
BJT 475Bị khát (nước), tôi đi đến gần dòng sông thì dòng sông trở nên khô cạn. Vào những lúc nóng, tôi đi đến gần bóng râm thì bóng râm trở thành ánh nắng mặt trời.
BJT 476Và làn gió, với dáng vẻ của ngọn lửa, thổi đến đốt nóng tôi. Và thưa ngài, tôi xứng đáng với việc này và việc khác tồi tệ hơn thế ấy.
BJT 477Sau khi đi đến thành phố Hatthinī, ngài nên nói với mẹ của tôi rằng: ‘Tôi đã nhìn thấy con gái của bà; cô ta bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma.
BJT 478Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây cô ta đã đi đến thế giới ngạ quỷ.’ Và ở nơi đây có vật đã được tôi cất giấu, tôi đã không nói về điều ấy.
BJT 479Có bốn trăm ngàn ở bên dưới chiếc ghế dài. Nhờ đó, vì tôi bà ta hãy ban phát vật thí, và mong rằng bà ta có được sự sinh sống.
BJT 480Và sau khi ban phát vật thí, mẹ tôi hãy chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu tất cả các dục.”
BJT 481“Tốt lắm!” Sau khi thỏa thuận, vị ấy đã đi đến thành phố Hatthinī và đã nói với mẹ của cô ấy rằng: “Tôi đã nhìn thấy con gái của bà; cô ta bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma.
BJT 482Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây cô ta đã đi đến thế giới ngạ quỷ. Tại nơi đó, cô ấy đã thúc giục tôi:—Ngài nên nói với mẹ của tôi rằng:
BJT 483‘Tôi đã nhìn thấy con gái của bà; cô ta bị đọa đày, thuộc cõi Dạ-ma. Sau khi làm nghiệp ác, từ nơi đây cô ta đã đi đến thế giới ngạ quỷ.’
BJT 484Và ở nơi đây có vật đã được tôi cất giấu, và tôi đã không nói về điều ấy. Có bốn trăm ngàn ở bên dưới chiếc ghế dài. Nhờ đó, vì tôi bà ta hãy ban phát vật thí, và mong rằng bà ta có được sự sinh sống.
BJT 485Và sau khi ban phát vật thí, mẹ tôi hãy chỉ định sự cúng dường là dành cho tôi. Khi ấy, tôi sẽ được hạnh phúc, có sự thành tựu tất cả các dục.”
BJT 486Chính vì thế, bà ấy đã ban phát vật thí, và sau khi ban phát đã chỉ định sự cúng dường là dành cho cô ấy. Và nữ ngạ quỷ đã được hạnh phúc, có thân xác, có dáng vẻ dễ mến.
Chuyện Ngạ Quỷ Seriṇī là thứ sáu.
“Naggā dubbaṇṇarūpāsi,
kisā dhamanisanthatā;
Upphāsulike kisike,
kā nu tvaṁ idha tiṭṭhasī”ti.
“Ahaṁ bhadante petīmhi,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
petalokaṁ ito gatā”ti.
“Anāvaṭesu titthesu,
viciniṁ aḍḍhamāsakaṁ;
Santesu deyyadhammesu,
dīpaṁ nākāsimattano.
Nadiṁ upemi tasitā,
rittakā parivattati;
Chāyaṁ upemi uṇhesu,
ātapo parivattati.
Aggivaṇṇo ca me vāto,
ḍahanto upavāyati;
Etañca bhante arahāmi,
aññañca pāpakaṁ tato.
Gantvāna hatthiniṁ puraṁ,
vajjesi mayha mātaraṁ;
‘Dhītā ca te mayā diṭṭhā,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā’.
Atthi me ettha nikkhittaṁ,
anakkhātañca taṁ mayā;
Cattārisatasahassāni,
pallaṅkassa ca heṭṭhato.
Tato me dānaṁ dadatu,
tassā ca hotu jīvikā;
Dānaṁ datvā ca me mātā,
dakkhiṇaṁ anudicchatu;
Tadāhaṁ sukhitā hessaṁ,
sabbakāmasamiddhinī”ti.
“Sādhū”ti so paṭissutvā,
gantvāna hatthiniṁ puraṁ;
Avoca tassā mātaraṁ—
“Dhītā ca te mayā diṭṭhā,
duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
petalokaṁ ito gatā.
Sā maṁ tattha samādapesi, (…)
Vajjesi mayha mātaraṁ;
‘Dhītā ca te mayā diṭṭhā,
Duggatā yamalokikā;
Pāpakammaṁ karitvāna,
Petalokaṁ ito gatā.
Atthi ca me ettha nikkhittaṁ,
anakkhātañca taṁ mayā;
Cattārisatasahassāni,
pallaṅkassa ca heṭṭhato.
Tato me dānaṁ dadatu,
tassā ca hotu jīvikā;
Dānaṁ datvā ca me mātā,
dakkhiṇaṁ anudicchatu (…);
Tadāhaṁ sukhitā hessaṁ,
sabbakāmasamiddhinī’”ti.
Tato hi sā dānamadā,
tassā dakkhiṇamādisī;
Petī ca sukhitā āsi,
tassā cāsi sujīvikāti.
Seriṇīpetivatthu chaṭṭhaṁ.