BJT 497“Ở ngôi nhà mái nhọn và ở tòa lâu đài, ở chiếc ghế dài được trải tấm thảm len lông dài, ngươi vui thích ở phần trình tấu khéo léo với năm loại nhạc cụ.
BJT 498Sau đó, vào lúc cuối đêm cho đến lúc mọc lên của mặt trời, ngươi bị thảy ra ở nơi nghĩa địa, trải nghiệm nhiều sự khổ đau.
BJT 499Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại trải nghiệm sự khổ đau này?”
BJT 500“Ở thành Rājagaha đáng yêu, nơi Giribbaja xinh xắn, tôi trước đây đã là người thợ săn thú rừng, và tôi đã là người thợ săn không tự kiềm chế.
BJT 501Tôi đây có người bạn tâm huyết là nam cư sĩ có đức tin. Vị tỳ khưu thường xuyên lui tới nhà của bạn ấy đã là Thinh Văn của đức Gotama.
BJT 502Trong khi thương xót đến tôi, bạn ấy cũng đã cản ngăn lần này đến lần khác: ‘Này bạn thân, bạn chớ tạo nghiệp ác, chớ đi đến cảnh giới khổ đau.
BJT 503Nếu bạn mong muốn sự an lạc sau khi chết, bạn hãy lánh xa việc giết hại mạng sống, việc không tự kiềm chế.’ Tôi đã lắng nghe lời nói của bạn ấy, người có lòng mong mỏi hạnh phúc, có lòng thương tưởng đến điều lợi ích (cho tôi).
BJT 504(Tuy nhiên) là người thích thú việc ác trong thời gian dài, không có sự sáng suốt, tôi đã không làm theo toàn bộ lời khuyên bảo. Vị (tỳ khưu) ấy, có trí thông minh bao la, vì lòng thương xót đã còn quy định thêm cho tôi về sự tự kiềm chế:
BJT 505‘Nếu đạo hữu giết hại các sanh mạng vào ban ngày, thì đạo hữu hãy có sự tự kiềm chế vào ban đêm.’ Tôi đây, sau khi giết chết các mạng sống vào ban ngày, đã lánh xa, đã tự kiềm chế vào ban đêm.
BJT 506(Giờ đây) vào ban đêm tôi hoàn toàn hài lòng, vào ban ngày tôi đi đến khổ cảnh, bị nhai nghiến. Do nghiệp thiện ấy, tôi hưởng thụ (dục lạc) không thuộc loài người vào ban đêm, vào ban ngày các con chó vừa mới bị đánh đập chạy đến gần (tôi) để nhai nghiến khắp mọi chỗ.
BJT 507Và những vị nào thường xuyên đeo đuổi, luôn luôn gắn bó vào lời dạy của đấng Thiện Thệ, tôi nghĩ rằng những người ấy chứng đắc trọn vẹn chính trạng thái Bất Tử, vị thế không bị tạo tác.”
Chuyện Ngạ Quỷ Người Thợ Săn Thú thứ nhì là thứ tám.
“Kūṭāgāre ca pāsāde,
pallaṅke gonakatthate;
Pañcaṅgikena turiyena,
ramasi suppavādite.
Tato ratyā vivasāne,
sūriyuggamanaṁ pati;
Apaviddho susānasmiṁ,
bahudukkhaṁ nigacchasi.
Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
idaṁ dukkhaṁ nigacchasi”.
“Ahaṁ rājagahe ramme,
ramaṇīye giribbaje;
Migaluddo pure āsiṁ,
luddo cāsimasaññato.
Tassa me sahāyo suhadayo,
Saddho āsi upāsako;
Tassa kulupako bhikkhu,
Āsi gotamasāvako;
Sopi maṁ anukampanto,
Nivāresi punappunaṁ.
‘Mākāsi pāpakaṁ kammaṁ,
Mā tāta duggatiṁ agā;
Sace icchasi pecca sukhaṁ,
Virama pāṇavadhā asaṁyamā’.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
Sukhakāmassa hitānukampino;
Nākāsiṁ sakalānusāsaniṁ,
Cirapāpābhirato abuddhimā.
So maṁ puna bhūrisumedhaso,
Anukampāya saṁyame nivesayi;
‘Sace divā hanasi pāṇino,
Atha te rattiṁ bhavatu saṁyamo’.
Svāhaṁ divā hanitvā pāṇino,
Virato rattimahosi saññato;
Rattāhaṁ paricāremi,
Divā khajjāmi duggato.
Tassa kammassa kusalassa,
Anubhomi rattiṁ amānusiṁ;
Divā paṭihatāva kukkurā,
Upadhāvanti samantā khādituṁ.
Ye ca te satatānuyogino,
Dhuvaṁ payuttā sugatassa sāsane;
Maññāmi te amatameva kevalaṁ,
Adhigacchanti padaṁ asaṅkhatan”ti.
Dutiyamigaluddakapetavatthu aṭṭhamaṁ.
English translation not yet available.
BJT 497“Ở ngôi nhà mái nhọn và ở tòa lâu đài, ở chiếc ghế dài được trải tấm thảm len lông dài, ngươi vui thích ở phần trình tấu khéo léo với năm loại nhạc cụ.
BJT 498Sau đó, vào lúc cuối đêm cho đến lúc mọc lên của mặt trời, ngươi bị thảy ra ở nơi nghĩa địa, trải nghiệm nhiều sự khổ đau.
BJT 499Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà ngươi lại trải nghiệm sự khổ đau này?”
BJT 500“Ở thành Rājagaha đáng yêu, nơi Giribbaja xinh xắn, tôi trước đây đã là người thợ săn thú rừng, và tôi đã là người thợ săn không tự kiềm chế.
BJT 501Tôi đây có người bạn tâm huyết là nam cư sĩ có đức tin. Vị tỳ khưu thường xuyên lui tới nhà của bạn ấy đã là Thinh Văn của đức Gotama.
BJT 502Trong khi thương xót đến tôi, bạn ấy cũng đã cản ngăn lần này đến lần khác: ‘Này bạn thân, bạn chớ tạo nghiệp ác, chớ đi đến cảnh giới khổ đau.
BJT 503Nếu bạn mong muốn sự an lạc sau khi chết, bạn hãy lánh xa việc giết hại mạng sống, việc không tự kiềm chế.’ Tôi đã lắng nghe lời nói của bạn ấy, người có lòng mong mỏi hạnh phúc, có lòng thương tưởng đến điều lợi ích (cho tôi).
BJT 504(Tuy nhiên) là người thích thú việc ác trong thời gian dài, không có sự sáng suốt, tôi đã không làm theo toàn bộ lời khuyên bảo. Vị (tỳ khưu) ấy, có trí thông minh bao la, vì lòng thương xót đã còn quy định thêm cho tôi về sự tự kiềm chế:
BJT 505‘Nếu đạo hữu giết hại các sanh mạng vào ban ngày, thì đạo hữu hãy có sự tự kiềm chế vào ban đêm.’ Tôi đây, sau khi giết chết các mạng sống vào ban ngày, đã lánh xa, đã tự kiềm chế vào ban đêm.
BJT 506(Giờ đây) vào ban đêm tôi hoàn toàn hài lòng, vào ban ngày tôi đi đến khổ cảnh, bị nhai nghiến. Do nghiệp thiện ấy, tôi hưởng thụ (dục lạc) không thuộc loài người vào ban đêm, vào ban ngày các con chó vừa mới bị đánh đập chạy đến gần (tôi) để nhai nghiến khắp mọi chỗ.
BJT 507Và những vị nào thường xuyên đeo đuổi, luôn luôn gắn bó vào lời dạy của đấng Thiện Thệ, tôi nghĩ rằng những người ấy chứng đắc trọn vẹn chính trạng thái Bất Tử, vị thế không bị tạo tác.”
Chuyện Ngạ Quỷ Người Thợ Săn Thú thứ nhì là thứ tám.
“Kūṭāgāre ca pāsāde,
pallaṅke gonakatthate;
Pañcaṅgikena turiyena,
ramasi suppavādite.
Tato ratyā vivasāne,
sūriyuggamanaṁ pati;
Apaviddho susānasmiṁ,
bahudukkhaṁ nigacchasi.
Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
idaṁ dukkhaṁ nigacchasi”.
“Ahaṁ rājagahe ramme,
ramaṇīye giribbaje;
Migaluddo pure āsiṁ,
luddo cāsimasaññato.
Tassa me sahāyo suhadayo,
Saddho āsi upāsako;
Tassa kulupako bhikkhu,
Āsi gotamasāvako;
Sopi maṁ anukampanto,
Nivāresi punappunaṁ.
‘Mākāsi pāpakaṁ kammaṁ,
Mā tāta duggatiṁ agā;
Sace icchasi pecca sukhaṁ,
Virama pāṇavadhā asaṁyamā’.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
Sukhakāmassa hitānukampino;
Nākāsiṁ sakalānusāsaniṁ,
Cirapāpābhirato abuddhimā.
So maṁ puna bhūrisumedhaso,
Anukampāya saṁyame nivesayi;
‘Sace divā hanasi pāṇino,
Atha te rattiṁ bhavatu saṁyamo’.
Svāhaṁ divā hanitvā pāṇino,
Virato rattimahosi saññato;
Rattāhaṁ paricāremi,
Divā khajjāmi duggato.
Tassa kammassa kusalassa,
Anubhomi rattiṁ amānusiṁ;
Divā paṭihatāva kukkurā,
Upadhāvanti samantā khādituṁ.
Ye ca te satatānuyogino,
Dhuvaṁ payuttā sugatassa sāsane;
Maññāmi te amatameva kevalaṁ,
Adhigacchanti padaṁ asaṅkhatan”ti.
Dutiyamigaluddakapetavatthu aṭṭhamaṁ.