BJT 334Khi vị tỳ khưu đã đi đến chỗ nghỉ trưa và đã ngồi xuống ở bờ sông Gaṅgā, có nữ ngạ quỷ xấu xí, với dáng vẻ ghê rợn, đã bước đến gần vị ấy.
BJT 335Mái tóc của cô ấy rất dài rủ xuống đến mặt đất. Được che phủ bằng mái tóc, cô ấy đã nói với vị Sa-môn điều này:
BJT 336“Năm mươi lăm năm kể từ khi tôi từ trần, tôi không biết đến việc đã được ăn hoặc ngay cả việc đã được uống nước. Thưa ngài, xin ngài hãy cho nước uống, tôi bị khát, tôi cần nước uống.”
BJT 337“Sông Gaṅgā này có nước mát chảy ra từ núi Hi-mã-lạp. Hãy lấy (nước) từ nơi ấy rồi uống, việc gì ngươi lại cầu xin ta nước uống?”
BJT 338“Thưa ngài, nếu tôi tự mình lấy nước uống từ sông Gaṅgā, nó biến thành máu đối với tôi, vì thế tôi cầu xin nước uống.”
BJT 339“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà sông Gaṅgā trở thành máu đối với ngươi?”
BJT 340“Con trai tôi tên Uttara, có đức tin, đã là cận sự nam. Và không theo sự mong muốn của tôi, nó đã cúng dường đến các vị Sa-môn (các vật):
BJT 341Y phục và vật thực, vật dụng, chỗ nằm ngồi. Bị khó chịu vì tính bỏn xẻn, tôi mắng nhiếc nó rằng:
BJT 342‘Vật nào mà con đã cúng dường đến các vị Sa-môn không theo sự mong muốn của mẹ là y phục và vật thực, vật dụng, chỗ nằm ngồi, …
BJT 343… này Uttara, vật ấy hãy trở thành máu đối với con trong kiếp sống kế tiếp.’ Do quả thành tựu của nghiệp ấy mà sông Gaṅgā trở thành máu đối với tôi.”
Chuyện Ngạ Quỷ—Mẹ của Uttara là thứ mười.
Divāvihāragataṁ bhikkhuṁ,
gaṅgātīre nisinnakaṁ;
Taṁ petī upasaṅkamma,
dubbaṇṇā bhīrudassanā.
Kesā cassā atidīghā,
yāvabhūmāvalambare;
Kesehi sā paṭicchannā,
samaṇaṁ etadabravi.
“Pañcapaṇṇāsavassāni,
yato kālaṅkatā ahaṁ;
Nābhijānāmi bhuttaṁ vā,
pītaṁ vā pana pāniyaṁ;
Dehi tvaṁ pāniyaṁ bhante,
tasitā pāniyāya me”ti.
“Ayaṁ sītodikā gaṅgā,
himavantato sandati;
Piva etto gahetvāna,
kiṁ maṁ yācasi pāniyan”ti.
“Sacāhaṁ bhante gaṅgāya,
sayaṁ gaṇhāmi pāniyaṁ;
Lohitaṁ me parivattati,
tasmā yācāmi pāniyan”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
gaṅgā te hoti lohitan”ti.
“Putto me uttaro nāma,
saddho āsi upāsako;
So ca mayhaṁ akāmāya,
samaṇānaṁ pavecchati.
Cīvaraṁ piṇḍapātañca,
paccayaṁ sayanāsanaṁ;
Tamahaṁ paribhāsāmi,
maccherena upaddutā.
Yaṁ tvaṁ mayhaṁ akāmāya,
samaṇānaṁ pavecchasi;
Cīvaraṁ piṇḍapātañca,
paccayaṁ sayanāsanaṁ.
Etaṁ te paralokasmiṁ,
lohitaṁ hotu uttara;
Tassa kammassa vipākena,
gaṅgā me hoti lohitan”ti.
Uttaramātupetivatthu dasamaṁ.
English translation not yet available.
BJT 334Khi vị tỳ khưu đã đi đến chỗ nghỉ trưa và đã ngồi xuống ở bờ sông Gaṅgā, có nữ ngạ quỷ xấu xí, với dáng vẻ ghê rợn, đã bước đến gần vị ấy.
BJT 335Mái tóc của cô ấy rất dài rủ xuống đến mặt đất. Được che phủ bằng mái tóc, cô ấy đã nói với vị Sa-môn điều này:
BJT 336“Năm mươi lăm năm kể từ khi tôi từ trần, tôi không biết đến việc đã được ăn hoặc ngay cả việc đã được uống nước. Thưa ngài, xin ngài hãy cho nước uống, tôi bị khát, tôi cần nước uống.”
BJT 337“Sông Gaṅgā này có nước mát chảy ra từ núi Hi-mã-lạp. Hãy lấy (nước) từ nơi ấy rồi uống, việc gì ngươi lại cầu xin ta nước uống?”
BJT 338“Thưa ngài, nếu tôi tự mình lấy nước uống từ sông Gaṅgā, nó biến thành máu đối với tôi, vì thế tôi cầu xin nước uống.”
BJT 339“Vậy ác hạnh gì đã được làm, bởi thân bởi khẩu bởi ý? Do quả thành tựu của nghiệp gì mà sông Gaṅgā trở thành máu đối với ngươi?”
BJT 340“Con trai tôi tên Uttara, có đức tin, đã là cận sự nam. Và không theo sự mong muốn của tôi, nó đã cúng dường đến các vị Sa-môn (các vật):
BJT 341Y phục và vật thực, vật dụng, chỗ nằm ngồi. Bị khó chịu vì tính bỏn xẻn, tôi mắng nhiếc nó rằng:
BJT 342‘Vật nào mà con đã cúng dường đến các vị Sa-môn không theo sự mong muốn của mẹ là y phục và vật thực, vật dụng, chỗ nằm ngồi, …
BJT 343… này Uttara, vật ấy hãy trở thành máu đối với con trong kiếp sống kế tiếp.’ Do quả thành tựu của nghiệp ấy mà sông Gaṅgā trở thành máu đối với tôi.”
Chuyện Ngạ Quỷ—Mẹ của Uttara là thứ mười.
Divāvihāragataṁ bhikkhuṁ,
gaṅgātīre nisinnakaṁ;
Taṁ petī upasaṅkamma,
dubbaṇṇā bhīrudassanā.
Kesā cassā atidīghā,
yāvabhūmāvalambare;
Kesehi sā paṭicchannā,
samaṇaṁ etadabravi.
“Pañcapaṇṇāsavassāni,
yato kālaṅkatā ahaṁ;
Nābhijānāmi bhuttaṁ vā,
pītaṁ vā pana pāniyaṁ;
Dehi tvaṁ pāniyaṁ bhante,
tasitā pāniyāya me”ti.
“Ayaṁ sītodikā gaṅgā,
himavantato sandati;
Piva etto gahetvāna,
kiṁ maṁ yācasi pāniyan”ti.
“Sacāhaṁ bhante gaṅgāya,
sayaṁ gaṇhāmi pāniyaṁ;
Lohitaṁ me parivattati,
tasmā yācāmi pāniyan”ti.
“Kiṁ nu kāyena vācāya,
manasā dukkaṭaṁ kataṁ;
Kissa kammavipākena,
gaṅgā te hoti lohitan”ti.
“Putto me uttaro nāma,
saddho āsi upāsako;
So ca mayhaṁ akāmāya,
samaṇānaṁ pavecchati.
Cīvaraṁ piṇḍapātañca,
paccayaṁ sayanāsanaṁ;
Tamahaṁ paribhāsāmi,
maccherena upaddutā.
Yaṁ tvaṁ mayhaṁ akāmāya,
samaṇānaṁ pavecchasi;
Cīvaraṁ piṇḍapātañca,
paccayaṁ sayanāsanaṁ.
Etaṁ te paralokasmiṁ,
lohitaṁ hotu uttara;
Tassa kammassa vipākena,
gaṅgā me hoti lohitan”ti.
Uttaramātupetivatthu dasamaṁ.