Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
BJT 1“Chiếc ghế của nàng làm bằng vàng, cao sang, di chuyển với tốc độ của tâm theo như ước muốn. Hỡi cô nàng đã được trang điểm, có mang vòng hoa, có y phục xinh đẹp, nàng chói sáng tựa như tia chớp ở đỉnh đám mây.
BJT 2Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 3Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 4Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 5“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã bố thí chỗ ngồi nhỏ cho những người khách đi đến. Tôi đã chào hỏi, đã chắp tay, và đã dâng vật thí tùy theo khả năng.
BJT 6Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 7Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Chiếc Ghế thứ nhất.
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
“Pīṭhaṁ te sovaṇṇamayaṁ uḷāraṁ,
Manojavaṁ gacchati yenakāmaṁ;
Alaṅkate malyadhare suvatthe,
Obhāsasi vijjurivabbhakūṭaṁ.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
Sā devatā attamanā,
moggallānena pucchitā;
Pañhaṁ puṭṭhā viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahaṁ manussesu manussabhūtā,
Abbhāgatānāsanakaṁ adāsiṁ;
Abhivādayiṁ añjalikaṁ akāsiṁ,
Yathānubhāvañca adāsi dānaṁ.
Tena metādiso vaṇṇo,
tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā,
ye keci manaso piyā.
Akkhāmi te bhikkhu mahānubhāva,
Manussabhūtā yamakāsi puññaṁ;
Tenamhi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
Paṭhamapīṭhavimānaṁ paṭhamaṁ.
Moggallana Bhante:
Dear Devata, you are sitting on a golden throne. It flies wherever you want, and as quickly as you want it to. You are beautifully dressed, wearing garlands of flowers, and you are radiant, like lightning shining through the clouds.
What kind of meritorious action did you do when you were in the human world to have gained this beauty that shines in all directions, and to have earned all these wonderful things?
Narrator:
That devata, delighted at being questioned by Arahant Moggallana, gladly explained what she had done that resulted in such great happiness.
Devata:
Bhante, when I was in the human world, a monk visited our house and I prepared a chair for him to sit on. Raising my hands and putting my palms and fingers together, I saluted that monk respectfully. I also offered almsfood to him.
Because of these meritorious deeds, I have been born as a very beautiful devata and enjoy all the wonderful things that delight my heart.
Great Bhante, these are the meritorious deeds I did to have such a beautiful body that shines in all directions.
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
BJT 1“Chiếc ghế của nàng làm bằng vàng, cao sang, di chuyển với tốc độ của tâm theo như ước muốn. Hỡi cô nàng đã được trang điểm, có mang vòng hoa, có y phục xinh đẹp, nàng chói sáng tựa như tia chớp ở đỉnh đám mây.
BJT 2Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 3Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 4Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 5“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã bố thí chỗ ngồi nhỏ cho những người khách đi đến. Tôi đã chào hỏi, đã chắp tay, và đã dâng vật thí tùy theo khả năng.
BJT 6Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 7Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Chiếc Ghế thứ nhất.
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
“Pīṭhaṁ te sovaṇṇamayaṁ uḷāraṁ,
Manojavaṁ gacchati yenakāmaṁ;
Alaṅkate malyadhare suvatthe,
Obhāsasi vijjurivabbhakūṭaṁ.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
Sā devatā attamanā,
moggallānena pucchitā;
Pañhaṁ puṭṭhā viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahaṁ manussesu manussabhūtā,
Abbhāgatānāsanakaṁ adāsiṁ;
Abhivādayiṁ añjalikaṁ akāsiṁ,
Yathānubhāvañca adāsi dānaṁ.
Tena metādiso vaṇṇo,
tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā,
ye keci manaso piyā.
Akkhāmi te bhikkhu mahānubhāva,
Manussabhūtā yamakāsi puññaṁ;
Tenamhi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
Paṭhamapīṭhavimānaṁ paṭhamaṁ.