BJT 1061“Thiên cung này cao, có cây trụ bằng ngọc ma-ni, ở xung quanh mười sáu do-tuần, có bảy trăm ngôi nhà mái nhọn cao sang với các cây cột làm bằng ngọc bích, được trải lót bằng vàng, xinh đẹp.
BJT 1062Ở nơi ấy, ngươi trú ngụ, ngươi uống, và ngươi ăn. Còn có các cây đàn vīṇā thuộc cõi Trời phát ra âm thanh ngọt ngào. Có tám nhóm, mỗi nhóm tám cô tiên nữ, sống ở cõi Ba Mươi (Ba), cao sang, đã được học tập, có dáng vóc nghiêm trang, nhảy múa, ca hát, làm trò tiêu khiển.
BJT 1063Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1064Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1065“Người bố thí trái cây đạt được quả báo dồi dào trong khi bố thí với tâm ý thanh tịnh đến những vị đã thực hành nghiêm chỉnh, chính người ấy, đã đi đến cõi Trời, vui sướng ở cõi Ba Mươi (Ba). Thưa bậc đại hiền trí, tương tự y như thế, tôi đã dâng cúng bốn trái cây, và tôi thọ hưởng quả phước dồi dào.
BJT 1066Chính vì thế, là quá đủ để người mong cầu hạnh phúc bố thí trái cây thường xuyên, là người đang ước nguyện các hạnh phúc thuộc cõi Trời, hay là đang mong muốn trạng thái giàu sang thuộc loài người.
BJT 1067Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 1068Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung của Người Bố Thí Trái Cây.
“Uccamidaṁ maṇithūṇaṁ vimānaṁ,
Samantato soḷasa yojanāni;
Kūṭāgārā sattasatā uḷārā,
Veḷuriyathambhā rucakatthatā subhā.
Tatthacchasi pivasi khādasi ca,
Dibbā ca vīṇā pavadanti vagguṁ;
Aṭṭhaṭṭhakā sikkhitā sādhurūpā,
Dibbā ca kaññā tidasacarā uḷārā;
Naccanti gāyanti pamodayanti.
Deviddhipattosi mahānubhāvo,
Manussabhūto kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvo,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
So devaputto attamano,
…pe…
Yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Phaladāyī phalaṁ vipulaṁ labhati,
Dadamujugatesu pasannamānaso;
So hi pamodati saggagato tidive,
Anubhoti ca puññaphalaṁ vipulaṁ.
Tavevāhaṁ mahāmuni,
Adāsiṁ caturo phale.
Tasmā hi phalaṁ alameva dātuṁ,
Niccaṁ manussena sukhatthikena;
Dibbāni vā patthayatā sukhāni,
Manussasobhaggatamicchatā vā.
Tena metādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
Phaladāyakavimānaṁ tatiyaṁ.
English translation not yet available.
BJT 1061“Thiên cung này cao, có cây trụ bằng ngọc ma-ni, ở xung quanh mười sáu do-tuần, có bảy trăm ngôi nhà mái nhọn cao sang với các cây cột làm bằng ngọc bích, được trải lót bằng vàng, xinh đẹp.
BJT 1062Ở nơi ấy, ngươi trú ngụ, ngươi uống, và ngươi ăn. Còn có các cây đàn vīṇā thuộc cõi Trời phát ra âm thanh ngọt ngào. Có tám nhóm, mỗi nhóm tám cô tiên nữ, sống ở cõi Ba Mươi (Ba), cao sang, đã được học tập, có dáng vóc nghiêm trang, nhảy múa, ca hát, làm trò tiêu khiển.
BJT 1063Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1064Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1065“Người bố thí trái cây đạt được quả báo dồi dào trong khi bố thí với tâm ý thanh tịnh đến những vị đã thực hành nghiêm chỉnh, chính người ấy, đã đi đến cõi Trời, vui sướng ở cõi Ba Mươi (Ba). Thưa bậc đại hiền trí, tương tự y như thế, tôi đã dâng cúng bốn trái cây, và tôi thọ hưởng quả phước dồi dào.
BJT 1066Chính vì thế, là quá đủ để người mong cầu hạnh phúc bố thí trái cây thường xuyên, là người đang ước nguyện các hạnh phúc thuộc cõi Trời, hay là đang mong muốn trạng thái giàu sang thuộc loài người.
BJT 1067Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 1068Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung của Người Bố Thí Trái Cây.
“Uccamidaṁ maṇithūṇaṁ vimānaṁ,
Samantato soḷasa yojanāni;
Kūṭāgārā sattasatā uḷārā,
Veḷuriyathambhā rucakatthatā subhā.
Tatthacchasi pivasi khādasi ca,
Dibbā ca vīṇā pavadanti vagguṁ;
Aṭṭhaṭṭhakā sikkhitā sādhurūpā,
Dibbā ca kaññā tidasacarā uḷārā;
Naccanti gāyanti pamodayanti.
Deviddhipattosi mahānubhāvo,
Manussabhūto kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvo,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
So devaputto attamano,
…pe…
Yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Phaladāyī phalaṁ vipulaṁ labhati,
Dadamujugatesu pasannamānaso;
So hi pamodati saggagato tidive,
Anubhoti ca puññaphalaṁ vipulaṁ.
Tavevāhaṁ mahāmuni,
Adāsiṁ caturo phale.
Tasmā hi phalaṁ alameva dātuṁ,
Niccaṁ manussena sukhatthikena;
Dibbāni vā patthayatā sukhāni,
Manussasobhaggatamicchatā vā.
Tena metādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
Phaladāyakavimānaṁ tatiyaṁ.