BJT 1016“Ngươi bước lên cỗ xe xinh đẹp được tô điểm nhiều màu sắc này, chiếc xe ngựa được kéo bởi một ngàn con, đang di chuyển lân cận khu vực vườn hoa, (ngươi) tựa như Vāsava, vị Chúa của chư Thiên, đấng chủ tể của các sanh linh.
BJT 1017Cả hai bên sườn cỗ xe của ngươi được làm bằng vàng, được kết hợp chặt chẽ với những thanh đứng và những thanh ngang, có cái khung được tạo ra khéo léo, đã được hoàn tất bởi nghệ nhân bậc thầy; (cỗ xe) chói sáng tựa như mặt trăng ngày rằm.
BJT 1018Được phủ lên với mạng lưới bằng vàng, được tô điểm với nhiều loại châu ngọc khác nhau, có âm thanh vô cùng vui tai, và vô cùng rực rỡ, cỗ xe này chói sáng với những cánh tay và bàn tay (đang phe phẩy) những cây phất trần.
BJT 1019Và các ổ trục này (của các bánh xe) đã được biến hóa ra bởi ý, được trang hoàng ở khoảng giữa bên trong các chân của cỗ xe; và các ổ trục này được tô điểm với hàng trăm nét vẽ, chúng chiếu sáng với hàng trăm tia sáng, tựa như tia chớp.
BJT 1020Cỗ xe này được trải lên với vô số tranh vẽ, và vành bánh xe là to rộng có ngàn ánh hào quang; âm thanh của chúng có nét dễ thương được nghe tựa như nhạc cụ gồm năm loại đã được tấu lên.
BJT 1021Đã được tô điểm ở phần đầu, được sửa soạn với mặt trăng bằng ngọc ma-ni, luôn luôn được trong sạch, đáng yêu, rực rỡ, được kết hợp dày đặc với các tia sáng bằng vàng, (cỗ xe) chói sáng nổi bật, tựa như có các tia sáng màu ngọc bích.
BJT 1022Và những con ngựa này, được sửa soạn với mặt trăng bằng ngọc ma-ni, cao to, có tốc độ nhanh, tương xứng với số đông, khổng lồ, vĩ đại, có sức mạnh, có tốc lực lớn lao, sau khi biết được tâm ý của ngươi, chúng di chuyển theo y như thế.
BJT 1023Và tất cả những con vật bốn chân này đã được phối hợp, sau khi biết được tâm ý của ngươi chúng di chuyển theo y như thế. Chúng kéo (cỗ xe) một cách đồng đều, chúng nhu thuận, không náo động, vui tính, là hạng nhất trong các loài ngựa.
BJT 1024Chúng giũ (lông), phi nhanh, phóng vào khoảng không, trong lúc làm rung chuyển dữ dội các vật trang sức đã khéo được thực hiện; âm thanh của chúng có nét dễ thương được nghe tựa như nhạc cụ gồm năm loại đã được tấu lên.
BJT 1025Âm vang của cỗ xe và của những vật trang sức, tiếng gầm của vó ngựa và của tiếng hí vang, âm thanh vô cùng dễ thương của (đám đông) đã hội tụ lại được nghe (tựa như) những nhạc cụ của các nhạc sĩ Thiên đình ở khu rừng nhiều màu sắc.
BJT 1026Các nàng (tiên nữ) ấy đứng ở cỗ xe, có những cặp mắt lim dim của loài nai, có hàng mi dày, cười đùa, có lời nói đáng yêu, được che phủ với mạng lưới bằng ngọc bích, có làn da mảnh mai, vẫn luôn luôn được tôn vinh bởi các nhạc sĩ Thiên đình và các vị đứng đầu chư Thiên.
BJT 1027Các nàng ấy, với tấm vải màu đỏ và y phục màu vàng quyến rũ, có cặp mắt to, với con mắt đỏ rực, đã được sanh ra tốt đẹp ở dòng dõi cao sang, có thân hình xinh xắn, có nụ cười vô tư, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1028Các nàng ấy có mang vòng xuyến bằng vàng, có y phục đẹp, có vòng eo đẹp, đùi và ngực đầy đặn, có các ngón tay tròn, khuôn mặt đẹp, có nét xinh xắn, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1029Những nàng khác, trẻ trung, có những bím tóc đẹp, có các sợi tóc được tết vào nhau, và (những cuộn tóc) được phân chia đồng đều, rực rỡ. Các nàng ấy phục tùng, vui thích theo ý định của ngươi, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1030Các nàng có những vòng hoa đội đầu được phủ lên với các sen hồng sen xanh, đã được trang điểm, đã được bôi thơm với tinh chất của trầm hương. Các nàng ấy phục tùng, vui thích theo ý định của ngươi, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1031Các nàng ấy có những tràng hoa được phủ lên với các sen hồng sen xanh, đã được trang điểm, đã được bôi thơm với tinh chất của trầm hương. Các nàng ấy phục tùng, vui thích theo ý định của ngươi, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1032Các vật trang sức ở cổ, ở các bàn tay, ở các bàn chân, tương tự y như thế ở đầu, khiến cho mười phương chiếu sáng toàn bộ, tựa như mặt trời mùa thu đang mọc lên.
BJT 1033Và bị lay động bởi lực đẩy của làn gió, các tràng hoa và các vật trang sức ở các cánh tay phát ra âm thanh đáng yêu, trong trẻo, mỹ miều, có vẻ đáng được lắng nghe bởi tất cả những người có sự nhận thức.
BJT 1034Này vị chúa của chư Thiên, các cỗ xe và những con long tượng đứng ở hai bên tại khu đất của vườn hoa, cùng các nhạc cụ và âm thanh làm cho chính ngươi được vui thích, giống như cây đàn vīṇā với mặt đàn, bầu đàn, và cần đàn (làm mọi người được vui thích).
BJT 1035Này vị chúa tể, trong khi các cây đàn vīṇā này, gồm nhiều loại, dễ thương, có hình dáng làm hài lòng, đang được tấu lên dồn dập, gây xáo động trái tim, các nàng tiên nữ, các cô gái đã được học tập, nhởn nhơ giữa các đóa sen.
BJT 1036Và khi các bài ca, các khúc nhạc, và các vũ công này hợp chung lại thành một, khi ấy ở nơi này họ nhảy múa, khi ấy ở nơi này các tiên nữ, những phụ nữ cao quý đang làm cho cả hai nơi chiếu sáng.
BJT 1037Ngươi đây vui thích, với sự đánh thức bởi các nhóm nhạc cụ, trong khi đang được nể vì tựa như vị (thần Inda) có tia sét là vũ khí. Này vị chúa tể, có sự gây xáo động trái tim ở nơi các cây đàn vīṇā gồm nhiều loại, dễ thương, có hình dáng làm hài lòng này.
BJT 1038Trước đây, ngươi đã tự mình tạo nghiệp gì, khi là con người ở kiếp sống trước đây? Hay là ngươi đã hành trì ngày trai giới nào, đã say mê sự thực hành pháp, sự hành trì nào?
BJT 1039Năng lực thần thông lớn lao này của ngươi, điều này không phải là của nghiệp nhỏ nhoi đã được làm, hoặc của ngày trai giới đã được hoàn thành tốt đẹp trong quá khứ, bởi vì ngươi tỏa sáng vượt trội hội chúng chư Thiên.
BJT 1040Quả báo này của ngươi là do sự bố thí, hay là do giới hạnh, hoặc của hành động chắp tay? Được hỏi, xin ngươi hãy giải thích điều ấy cho ta.”
BJT 1041Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã nói rõ quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1042“Đức Phật Kassapa, vị có giác quan đã được chế ngự, có sự ra đi tuyệt vời, đấng Tối Thượng Nhân, nhân vật cao cả, bậc đang mở ra cánh cửa Bất Tử ấy, vị Trời vượt trội các vị Trời, có trăm dấu hiệu phước báu.
BJT 1043Tôi đã nhìn thấy Ngài, đấng Khổng Tượng, người đã vượt qua dòng nước lũ, tương tự hình tượng bóng láng bằng vàng. Sau khi nhìn thấy Ngài, sau khi nhìn thấy chính biểu hiện của (Giáo Pháp) đã khéo được thuyết giảng ấy, tôi đã tức thời trở nên có tâm ý trong sạch.
BJT 1044Ở nơi trú ngụ của mình đã được trải lót bông hoa, tôi đây, với tâm ý không có sự ràng buộc, đã cống hiến đến Ngài cơm ăn, nước uống, và luôn cả y phục sạch sẽ, hảo hạng, được thành tựu phẩm chất.
BJT 1045Sau khi làm toại ý bậc Tối Thượng của các loài hai chân ấy với cơm ăn, với nước uống, và với y phục, với vật nhai, với thức ăn, và với cao lương mỹ vị, tôi đây vui sướng ở thành phố của chư Thiên theo tuần tự của các cõi Trời.
BJT 1046Bằng cách thức này, sau khi dâng hiến việc hiến dâng này không có sự ngần ngại, được trong sạch theo ba cách, sau khi lìa bỏ xác thân nhân loại, tôi vui sướng ở thành phố của chư Thiên tương tự như vị Thần Inda.
BJT 1047Thưa bậc hiền trí, người đang mong mỏi tuổi thọ, sắc đẹp, hạnh phúc, và sức mạnh có hình thức hảo hạng, nên cống hiến nhiều cơm ăn nước uống đã khéo được chuẩn bị ở bậc có tâm ý không có sự ràng buộc.
BJT 1048Ở thế gian này hay là ở đời kế tiếp đi nữa, người đã đi đến trạng thái nên được hiến cúng, xứng đáng với sự hiến cúng tối thượng, (đã đi đến) sự tồn tại ở quả báo to lớn đối với những người mong mỏi phước báu, người là bậc tốt hơn hay tương đương với đức Phật không được biết đến.”
Thiên Cung Cỗ Xe Lớn.
Phẩm Cỗ Xe Lớn là thứ năm.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
(Chuyện Thiên tử) Ếch, Revatī, Chatta, (xúp) cua, người giữ cửa, hai việc nên làm, hai (chuyện) cây kim, ba (chuyện) long tượng, và hai (chuyện) cỗ xe; được gọi là phẩm thứ nhất của những người nam.”
TỤNG PHẨM THỨ BA.
“Sahassayuttaṁ hayavāhanaṁ subhaṁ,
Āruyhimaṁ sandanaṁ nekacittaṁ;
Uyyānabhūmiṁ abhito anukkamaṁ,
Purindado bhūtapatīva vāsavo.
Sovaṇṇamayā te rathakubbarā ubho,
Phalehi aṁsehi atīva saṅgatā;
Sujātagumbā naravīraniṭṭhitā,
Virocatī pannaraseva cando.
Suvaṇṇajālāvatato ratho ayaṁ,
Bahūhi nānāratanehi cittito;
Sunandighoso ca subhassaro ca,
Virocatī cāmarahatthabāhubhi.
Imā ca nābhyo manasābhinimmitā,
Rathassa pādantaramajjhabhūsitā;
Imā ca nābhyo satarājicittitā,
Sateratā vijjurivappabhāsare.
Anekacittāvatato ratho ayaṁ,
Puthū ca nemī ca sahassaraṁsiko;
Tesaṁ saro suyyati vaggurūpo,
Pañcaṅgikaṁ tūriyamivappavāditaṁ.
Sirasmiṁ cittaṁ maṇicandakappitaṁ,
Sadā visuddhaṁ ruciraṁ pabhassaraṁ;
Suvaṇṇarājīhi atīva saṅgataṁ,
Veḷuriyarājīva atīva sobhati.
Ime ca vāḷī maṇicandakappitā,
Ārohakambū sujavā brahūpamā;
Brahā mahantā balino mahājavā,
Mano tavaññāya tatheva siṁsare.
Ime ca sabbe sahitā catukkamā,
Mano tavaññāya tatheva siṁsare;
Samaṁ vahantī mudukā anuddhatā,
Āmodamānā turagānamuttama.
Dhunanti vagganti patanti cambare,
Abbhuddhunantā sukate piḷandhane;
Tesaṁ saro suyyati vaggurūpo,
Pañcaṅgikaṁ tūriyamivappavāditaṁ.
Rathassa ghoso apiḷandhanāna ca,
Khurassa nādo abhihiṁsanāya ca;
Ghoso suvaggū samitassa suyyati,
Gandhabbatūriyāni vicitrasaṁvane.
Rathe ṭhitā tā migamandalocanā,
Āḷārapamhā hasitā piyaṁvadā;
Veḷuriyajālāvatatā tanucchavā,
Sadeva gandhabbasūraggapūjitā.
Tā rattarattambarapītavāsasā,
Visālanettā abhirattalocanā;
Kule sujātā sutanū sucimhitā,
Rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Tā kambukeyūradharā suvāsasā,
Sumajjhimā ūruthanūpapannā;
Vaṭṭaṅguliyo sumukhā sudassanā,
Rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Aññā suveṇī susu missakesiyo,
Samaṁ vibhattāhi pabhassarāhi ca;
Anubbatā tā tava mānase ratā,
Rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Āveḷiniyo padumuppalacchadā,
Alaṅkatā candanasāravāsitā;
Anubbatā tā tava mānase ratā,
Rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Tā māliniyo padumuppalacchadā,
Alaṅkatā candanasāravāsitā;
Anubbatā tā tava mānase ratā,
Rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Kaṇṭhesu te yāni piḷandhanāni,
Hatthesu pādesu tatheva sīse;
Obhāsayantī dasa sabbaso disā,
Abbhuddayaṁ sāradikova bhāṇumā.
Vātassa vegena ca sampakampitā,
Bhujesu mālā apiḷandhanāni ca;
Muñcanti ghosaṁ ruciraṁ suciṁ subhaṁ,
Sabbehi viññūhi sutabbarūpaṁ.
Uyyānabhūmyā ca duvaddhato ṭhitā,
Rathā ca nāgā tūriyāni ca saro;
Tameva devinda pamodayanti,
Vīṇā yathā pokkharapattabāhubhi.
Imāsu vīṇāsu bahūsu vaggūsu,
Manuññarūpāsu hadayeritaṁ pītiṁ;
Pavajjamānāsu atīva accharā,
Bhamanti kaññā padumesu sikkhitā.
Yadā ca gītāni ca vāditāni ca,
Naccāni cimāni samenti ekato;
Athettha naccanti athettha accharā,
Obhāsayantī ubhato varitthiyo.
So modasi tūriyagaṇappabodhano,
Mahīyamāno vajirāvudhoriva;
Imāsu vīṇāsu bahūsu vaggūsu,
Manuññarūpāsu hadayeritaṁ pītiṁ.
Kiṁ tvaṁ pure kammamakāsi attanā,
Manussabhūto purimāya jātiyā;
Uposathaṁ kaṁ vā tuvaṁ upāvasi,
Kaṁ dhammacariyaṁ vatamābhirocayi.
Nayīdamappassa katassa kammuno,
Pubbe suciṇṇassa uposathassa vā;
Iddhānubhāvo vipulo ayaṁ tava,
Yaṁ devasaṅghaṁ abhirocase bhusaṁ.
Dānassa te idaṁ phalaṁ,
atho sīlassa vā pana;
Atho añjalikammassa,
taṁ me akkhāhi pucchito”ti.
So devaputto attamano,
moggallānena pucchito;
Pañhaṁ puṭṭho viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalanti.
“Jitindriyaṁ buddhamanomanikkamaṁ,
Naruttamaṁ kassapamaggapuggalaṁ;
Avāpurantaṁ amatassa dvāraṁ,
Devātidevaṁ satapuññalakkhaṇaṁ.
Tamaddasaṁ kuñjaramoghatiṇṇaṁ,
Suvaṇṇasiṅgīnadabimbasādisaṁ;
Disvāna taṁ khippamahuṁ sucīmano,
Tameva disvāna subhāsitaddhajaṁ.
Tamannapānaṁ athavāpi cīvaraṁ,
Suciṁ paṇītaṁ rasasā upetaṁ;
Pupphābhikkiṇamhi sake nivesane,
Patiṭṭhapesiṁ sa asaṅgamānaso.
Tamannapānena ca cīvarena ca,
Khajjena bhojjena ca sāyanena ca;
Santappayitvā dvipadānamuttamaṁ,
So saggaso devapure ramāmahaṁ.
Etenupāyena imaṁ niraggaḷaṁ,
Yaññaṁ yajitvā tividhaṁ visuddhaṁ;
Pahāyahaṁ mānusakaṁ samussayaṁ,
Indūpamo devapure ramāmahaṁ.
Āyuñca vaṇṇañca sukhaṁ balañca,
Paṇītarūpaṁ abhikaṅkhatā muni;
Annañca pānañca bahuṁ susaṅkhataṁ,
Patiṭṭhapetabbamasaṅgamānase.
Nayimasmiṁ loke parasmiṁ vā pana,
Buddhena seṭṭho va samo va vijjati;
Āhuneyyānaṁ paramāhutiṁ gato,
Puññatthikānaṁ vipulapphalesinan”ti.
Mahārathavimānaṁ cuddasamaṁ.
Mahārathavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Maṇḍūko revatī chatto,
Kakkaṭo dvārapālako;
Dve karaṇīyā dve sūci,
Tayo nāgā ca dve rathā;
Purisānaṁ paṭhamo vaggo pavuccatīti.
Bhāṇavāraṁ tatiyaṁ.
English translation not yet available.
BJT 1016“Ngươi bước lên cỗ xe xinh đẹp được tô điểm nhiều màu sắc này, chiếc xe ngựa được kéo bởi một ngàn con, đang di chuyển lân cận khu vực vườn hoa, (ngươi) tựa như Vāsava, vị Chúa của chư Thiên, đấng chủ tể của các sanh linh.
BJT 1017Cả hai bên sườn cỗ xe của ngươi được làm bằng vàng, được kết hợp chặt chẽ với những thanh đứng và những thanh ngang, có cái khung được tạo ra khéo léo, đã được hoàn tất bởi nghệ nhân bậc thầy; (cỗ xe) chói sáng tựa như mặt trăng ngày rằm.
BJT 1018Được phủ lên với mạng lưới bằng vàng, được tô điểm với nhiều loại châu ngọc khác nhau, có âm thanh vô cùng vui tai, và vô cùng rực rỡ, cỗ xe này chói sáng với những cánh tay và bàn tay (đang phe phẩy) những cây phất trần.
BJT 1019Và các ổ trục này (của các bánh xe) đã được biến hóa ra bởi ý, được trang hoàng ở khoảng giữa bên trong các chân của cỗ xe; và các ổ trục này được tô điểm với hàng trăm nét vẽ, chúng chiếu sáng với hàng trăm tia sáng, tựa như tia chớp.
BJT 1020Cỗ xe này được trải lên với vô số tranh vẽ, và vành bánh xe là to rộng có ngàn ánh hào quang; âm thanh của chúng có nét dễ thương được nghe tựa như nhạc cụ gồm năm loại đã được tấu lên.
BJT 1021Đã được tô điểm ở phần đầu, được sửa soạn với mặt trăng bằng ngọc ma-ni, luôn luôn được trong sạch, đáng yêu, rực rỡ, được kết hợp dày đặc với các tia sáng bằng vàng, (cỗ xe) chói sáng nổi bật, tựa như có các tia sáng màu ngọc bích.
BJT 1022Và những con ngựa này, được sửa soạn với mặt trăng bằng ngọc ma-ni, cao to, có tốc độ nhanh, tương xứng với số đông, khổng lồ, vĩ đại, có sức mạnh, có tốc lực lớn lao, sau khi biết được tâm ý của ngươi, chúng di chuyển theo y như thế.
BJT 1023Và tất cả những con vật bốn chân này đã được phối hợp, sau khi biết được tâm ý của ngươi chúng di chuyển theo y như thế. Chúng kéo (cỗ xe) một cách đồng đều, chúng nhu thuận, không náo động, vui tính, là hạng nhất trong các loài ngựa.
BJT 1024Chúng giũ (lông), phi nhanh, phóng vào khoảng không, trong lúc làm rung chuyển dữ dội các vật trang sức đã khéo được thực hiện; âm thanh của chúng có nét dễ thương được nghe tựa như nhạc cụ gồm năm loại đã được tấu lên.
BJT 1025Âm vang của cỗ xe và của những vật trang sức, tiếng gầm của vó ngựa và của tiếng hí vang, âm thanh vô cùng dễ thương của (đám đông) đã hội tụ lại được nghe (tựa như) những nhạc cụ của các nhạc sĩ Thiên đình ở khu rừng nhiều màu sắc.
BJT 1026Các nàng (tiên nữ) ấy đứng ở cỗ xe, có những cặp mắt lim dim của loài nai, có hàng mi dày, cười đùa, có lời nói đáng yêu, được che phủ với mạng lưới bằng ngọc bích, có làn da mảnh mai, vẫn luôn luôn được tôn vinh bởi các nhạc sĩ Thiên đình và các vị đứng đầu chư Thiên.
BJT 1027Các nàng ấy, với tấm vải màu đỏ và y phục màu vàng quyến rũ, có cặp mắt to, với con mắt đỏ rực, đã được sanh ra tốt đẹp ở dòng dõi cao sang, có thân hình xinh xắn, có nụ cười vô tư, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1028Các nàng ấy có mang vòng xuyến bằng vàng, có y phục đẹp, có vòng eo đẹp, đùi và ngực đầy đặn, có các ngón tay tròn, khuôn mặt đẹp, có nét xinh xắn, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1029Những nàng khác, trẻ trung, có những bím tóc đẹp, có các sợi tóc được tết vào nhau, và (những cuộn tóc) được phân chia đồng đều, rực rỡ. Các nàng ấy phục tùng, vui thích theo ý định của ngươi, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1030Các nàng có những vòng hoa đội đầu được phủ lên với các sen hồng sen xanh, đã được trang điểm, đã được bôi thơm với tinh chất của trầm hương. Các nàng ấy phục tùng, vui thích theo ý định của ngươi, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1031Các nàng ấy có những tràng hoa được phủ lên với các sen hồng sen xanh, đã được trang điểm, đã được bôi thơm với tinh chất của trầm hương. Các nàng ấy phục tùng, vui thích theo ý định của ngươi, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1032Các vật trang sức ở cổ, ở các bàn tay, ở các bàn chân, tương tự y như thế ở đầu, khiến cho mười phương chiếu sáng toàn bộ, tựa như mặt trời mùa thu đang mọc lên.
BJT 1033Và bị lay động bởi lực đẩy của làn gió, các tràng hoa và các vật trang sức ở các cánh tay phát ra âm thanh đáng yêu, trong trẻo, mỹ miều, có vẻ đáng được lắng nghe bởi tất cả những người có sự nhận thức.
BJT 1034Này vị chúa của chư Thiên, các cỗ xe và những con long tượng đứng ở hai bên tại khu đất của vườn hoa, cùng các nhạc cụ và âm thanh làm cho chính ngươi được vui thích, giống như cây đàn vīṇā với mặt đàn, bầu đàn, và cần đàn (làm mọi người được vui thích).
BJT 1035Này vị chúa tể, trong khi các cây đàn vīṇā này, gồm nhiều loại, dễ thương, có hình dáng làm hài lòng, đang được tấu lên dồn dập, gây xáo động trái tim, các nàng tiên nữ, các cô gái đã được học tập, nhởn nhơ giữa các đóa sen.
BJT 1036Và khi các bài ca, các khúc nhạc, và các vũ công này hợp chung lại thành một, khi ấy ở nơi này họ nhảy múa, khi ấy ở nơi này các tiên nữ, những phụ nữ cao quý đang làm cho cả hai nơi chiếu sáng.
BJT 1037Ngươi đây vui thích, với sự đánh thức bởi các nhóm nhạc cụ, trong khi đang được nể vì tựa như vị (thần Inda) có tia sét là vũ khí. Này vị chúa tể, có sự gây xáo động trái tim ở nơi các cây đàn vīṇā gồm nhiều loại, dễ thương, có hình dáng làm hài lòng này.
BJT 1038Trước đây, ngươi đã tự mình tạo nghiệp gì, khi là con người ở kiếp sống trước đây? Hay là ngươi đã hành trì ngày trai giới nào, đã say mê sự thực hành pháp, sự hành trì nào?
BJT 1039Năng lực thần thông lớn lao này của ngươi, điều này không phải là của nghiệp nhỏ nhoi đã được làm, hoặc của ngày trai giới đã được hoàn thành tốt đẹp trong quá khứ, bởi vì ngươi tỏa sáng vượt trội hội chúng chư Thiên.
BJT 1040Quả báo này của ngươi là do sự bố thí, hay là do giới hạnh, hoặc của hành động chắp tay? Được hỏi, xin ngươi hãy giải thích điều ấy cho ta.”
BJT 1041Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã nói rõ quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1042“Đức Phật Kassapa, vị có giác quan đã được chế ngự, có sự ra đi tuyệt vời, đấng Tối Thượng Nhân, nhân vật cao cả, bậc đang mở ra cánh cửa Bất Tử ấy, vị Trời vượt trội các vị Trời, có trăm dấu hiệu phước báu.
BJT 1043Tôi đã nhìn thấy Ngài, đấng Khổng Tượng, người đã vượt qua dòng nước lũ, tương tự hình tượng bóng láng bằng vàng. Sau khi nhìn thấy Ngài, sau khi nhìn thấy chính biểu hiện của (Giáo Pháp) đã khéo được thuyết giảng ấy, tôi đã tức thời trở nên có tâm ý trong sạch.
BJT 1044Ở nơi trú ngụ của mình đã được trải lót bông hoa, tôi đây, với tâm ý không có sự ràng buộc, đã cống hiến đến Ngài cơm ăn, nước uống, và luôn cả y phục sạch sẽ, hảo hạng, được thành tựu phẩm chất.
BJT 1045Sau khi làm toại ý bậc Tối Thượng của các loài hai chân ấy với cơm ăn, với nước uống, và với y phục, với vật nhai, với thức ăn, và với cao lương mỹ vị, tôi đây vui sướng ở thành phố của chư Thiên theo tuần tự của các cõi Trời.
BJT 1046Bằng cách thức này, sau khi dâng hiến việc hiến dâng này không có sự ngần ngại, được trong sạch theo ba cách, sau khi lìa bỏ xác thân nhân loại, tôi vui sướng ở thành phố của chư Thiên tương tự như vị Thần Inda.
BJT 1047Thưa bậc hiền trí, người đang mong mỏi tuổi thọ, sắc đẹp, hạnh phúc, và sức mạnh có hình thức hảo hạng, nên cống hiến nhiều cơm ăn nước uống đã khéo được chuẩn bị ở bậc có tâm ý không có sự ràng buộc.
BJT 1048Ở thế gian này hay là ở đời kế tiếp đi nữa, người đã đi đến trạng thái nên được hiến cúng, xứng đáng với sự hiến cúng tối thượng, (đã đi đến) sự tồn tại ở quả báo to lớn đối với những người mong mỏi phước báu, người là bậc tốt hơn hay tương đương với đức Phật không được biết đến.”
Thiên Cung Cỗ Xe Lớn.
Phẩm Cỗ Xe Lớn là thứ năm.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
(Chuyện Thiên tử) Ếch, Revatī, Chatta, (xúp) cua, người giữ cửa, hai việc nên làm, hai (chuyện) cây kim, ba (chuyện) long tượng, và hai (chuyện) cỗ xe; được gọi là phẩm thứ nhất của những người nam.”
TỤNG PHẨM THỨ BA.
“Sahassayuttaṁ hayavāhanaṁ subhaṁ,
Āruyhimaṁ sandanaṁ nekacittaṁ;
Uyyānabhūmiṁ abhito anukkamaṁ,
Purindado bhūtapatīva vāsavo.
Sovaṇṇamayā te rathakubbarā ubho,
Phalehi aṁsehi atīva saṅgatā;
Sujātagumbā naravīraniṭṭhitā,
Virocatī pannaraseva cando.
Suvaṇṇajālāvatato ratho ayaṁ,
Bahūhi nānāratanehi cittito;
Sunandighoso ca subhassaro ca,
Virocatī cāmarahatthabāhubhi.
Imā ca nābhyo manasābhinimmitā,
Rathassa pādantaramajjhabhūsitā;
Imā ca nābhyo satarājicittitā,
Sateratā vijjurivappabhāsare.
Anekacittāvatato ratho ayaṁ,
Puthū ca nemī ca sahassaraṁsiko;
Tesaṁ saro suyyati vaggurūpo,
Pañcaṅgikaṁ tūriyamivappavāditaṁ.
Sirasmiṁ cittaṁ maṇicandakappitaṁ,
Sadā visuddhaṁ ruciraṁ pabhassaraṁ;
Suvaṇṇarājīhi atīva saṅgataṁ,
Veḷuriyarājīva atīva sobhati.
Ime ca vāḷī maṇicandakappitā,
Ārohakambū sujavā brahūpamā;
Brahā mahantā balino mahājavā,
Mano tavaññāya tatheva siṁsare.
Ime ca sabbe sahitā catukkamā,
Mano tavaññāya tatheva siṁsare;
Samaṁ vahantī mudukā anuddhatā,
Āmodamānā turagānamuttama.
Dhunanti vagganti patanti cambare,
Abbhuddhunantā sukate piḷandhane;
Tesaṁ saro suyyati vaggurūpo,
Pañcaṅgikaṁ tūriyamivappavāditaṁ.
Rathassa ghoso apiḷandhanāna ca,
Khurassa nādo abhihiṁsanāya ca;
Ghoso suvaggū samitassa suyyati,
Gandhabbatūriyāni vicitrasaṁvane.
Rathe ṭhitā tā migamandalocanā,
Āḷārapamhā hasitā piyaṁvadā;
Veḷuriyajālāvatatā tanucchavā,
Sadeva gandhabbasūraggapūjitā.
Tā rattarattambarapītavāsasā,
Visālanettā abhirattalocanā;
Kule sujātā sutanū sucimhitā,
Rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Tā kambukeyūradharā suvāsasā,
Sumajjhimā ūruthanūpapannā;
Vaṭṭaṅguliyo sumukhā sudassanā,
Rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Aññā suveṇī susu missakesiyo,
Samaṁ vibhattāhi pabhassarāhi ca;
Anubbatā tā tava mānase ratā,
Rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Āveḷiniyo padumuppalacchadā,
Alaṅkatā candanasāravāsitā;
Anubbatā tā tava mānase ratā,
Rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Tā māliniyo padumuppalacchadā,
Alaṅkatā candanasāravāsitā;
Anubbatā tā tava mānase ratā,
Rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Kaṇṭhesu te yāni piḷandhanāni,
Hatthesu pādesu tatheva sīse;
Obhāsayantī dasa sabbaso disā,
Abbhuddayaṁ sāradikova bhāṇumā.
Vātassa vegena ca sampakampitā,
Bhujesu mālā apiḷandhanāni ca;
Muñcanti ghosaṁ ruciraṁ suciṁ subhaṁ,
Sabbehi viññūhi sutabbarūpaṁ.
Uyyānabhūmyā ca duvaddhato ṭhitā,
Rathā ca nāgā tūriyāni ca saro;
Tameva devinda pamodayanti,
Vīṇā yathā pokkharapattabāhubhi.
Imāsu vīṇāsu bahūsu vaggūsu,
Manuññarūpāsu hadayeritaṁ pītiṁ;
Pavajjamānāsu atīva accharā,
Bhamanti kaññā padumesu sikkhitā.
Yadā ca gītāni ca vāditāni ca,
Naccāni cimāni samenti ekato;
Athettha naccanti athettha accharā,
Obhāsayantī ubhato varitthiyo.
So modasi tūriyagaṇappabodhano,
Mahīyamāno vajirāvudhoriva;
Imāsu vīṇāsu bahūsu vaggūsu,
Manuññarūpāsu hadayeritaṁ pītiṁ.
Kiṁ tvaṁ pure kammamakāsi attanā,
Manussabhūto purimāya jātiyā;
Uposathaṁ kaṁ vā tuvaṁ upāvasi,
Kaṁ dhammacariyaṁ vatamābhirocayi.
Nayīdamappassa katassa kammuno,
Pubbe suciṇṇassa uposathassa vā;
Iddhānubhāvo vipulo ayaṁ tava,
Yaṁ devasaṅghaṁ abhirocase bhusaṁ.
Dānassa te idaṁ phalaṁ,
atho sīlassa vā pana;
Atho añjalikammassa,
taṁ me akkhāhi pucchito”ti.
So devaputto attamano,
moggallānena pucchito;
Pañhaṁ puṭṭho viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalanti.
“Jitindriyaṁ buddhamanomanikkamaṁ,
Naruttamaṁ kassapamaggapuggalaṁ;
Avāpurantaṁ amatassa dvāraṁ,
Devātidevaṁ satapuññalakkhaṇaṁ.
Tamaddasaṁ kuñjaramoghatiṇṇaṁ,
Suvaṇṇasiṅgīnadabimbasādisaṁ;
Disvāna taṁ khippamahuṁ sucīmano,
Tameva disvāna subhāsitaddhajaṁ.
Tamannapānaṁ athavāpi cīvaraṁ,
Suciṁ paṇītaṁ rasasā upetaṁ;
Pupphābhikkiṇamhi sake nivesane,
Patiṭṭhapesiṁ sa asaṅgamānaso.
Tamannapānena ca cīvarena ca,
Khajjena bhojjena ca sāyanena ca;
Santappayitvā dvipadānamuttamaṁ,
So saggaso devapure ramāmahaṁ.
Etenupāyena imaṁ niraggaḷaṁ,
Yaññaṁ yajitvā tividhaṁ visuddhaṁ;
Pahāyahaṁ mānusakaṁ samussayaṁ,
Indūpamo devapure ramāmahaṁ.
Āyuñca vaṇṇañca sukhaṁ balañca,
Paṇītarūpaṁ abhikaṅkhatā muni;
Annañca pānañca bahuṁ susaṅkhataṁ,
Patiṭṭhapetabbamasaṅgamānase.
Nayimasmiṁ loke parasmiṁ vā pana,
Buddhena seṭṭho va samo va vijjati;
Āhuneyyānaṁ paramāhutiṁ gato,
Puññatthikānaṁ vipulapphalesinan”ti.
Mahārathavimānaṁ cuddasamaṁ.
Mahārathavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Maṇḍūko revatī chatto,
Kakkaṭo dvārapālako;
Dve karaṇīyā dve sūci,
Tayo nāgā ca dve rathā;
Purisānaṁ paṭhamo vaggo pavuccatīti.
Bhāṇavāraṁ tatiyaṁ.