BJT 887“Vị nào là đấng quý cao trong số các bậc thuyết giảng của loài người, là bậc Hiền Trí dòng Sakya, đức Thế Tôn, có phận sự đã làm xong, đã đi đến bờ kia, có được sức mạnh và sự tinh tấn; ngươi hãy đến gần đấng Thiện Thệ ấy với mục đích nương nhờ.
BJT 888Giáo Pháp này không nhiễm ái luyến, không dục vọng, không sầu muộn, không bị tạo tác, không đáng ghét, ngọt ngào, có sự hoàn thiện, khéo được phân tích; ngươi hãy đến gần Giáo Pháp này với mục đích nương nhờ.
BJT 889Và nơi nào người ta đã nói vật được bố thí là có quả báo lớn, (tức là) ở bốn đôi của hạng người trong sạch; tám hạng ấy là các cá nhân đã nhìn thấy Giáo Pháp; ngươi hãy đến gần Hội Chúng này với mục đích nương nhờ.”
BJT 890“Không giống như mặt trời chói sáng ở bầu không gian, mặt trăng và sao Phussa đều không chiếu sáng giống như người này, vị có ánh sáng vĩ đại, không thể đo lường; ngươi là ai mà đã từ cõi Ba Mươi (Ba) đi đến trái đất?
BJT 891Ánh sáng với sự vượt trội hai mươi do-tuần cắt đứt các ánh hào quang của mặt trời, và làm cho ban đêm cũng giống như ban ngày. Thiên cung là hoàn toàn trong sạch, không bụi bặm, xinh đẹp.
BJT 892Với nhiều sen trắng, sen hồng nhiều màu sắc, được trộn lẫn với các bông hoa, được tô điểm nhiều màu sắc, được bao phủ bởi mạng lưới vàng không bụi, sạch bụi, (Thiên cung ấy) chói sáng ở không trung cũng giống như mặt trời.
BJT 893Với các tấm vải màu đỏ và y phục màu vàng, với các chất bôi thơm như là agaru, piyaṅgu, và trầm hương, với các làn da mềm mại tựa như vàng, (Thiên cung ấy) được hoàn mãn tựa như bầu trời được hoàn mãn nhờ vào các vì sao.
BJT 894Ở đây, có nhiều người nam người nữ với nhiều sắc thái, ở đây là những người có thiện tâm, có các đồ trang sức được điểm trang với các bông hoa, được tự do theo làn gió, tỏa ra hương thơm, được trải rộng với (dây buộc bằng) vàng (ở bím tóc), có y phục bằng vàng.
BJT 895Quả thành tựu này là do sự an tịnh và rèn luyện nào? Do kết quả của việc làm nào mà ngươi đã được sanh ra ở nơi đây? Và như thế nào mà ngươi đã được ngự đến cung điện này? Nào, đã được hỏi, ngươi hãy nói về điều ấy theo từng phần một.”
BJT 896“Bởi vì, tại nơi đây, ở con đường lộ, sau khi gặp gỡ với người thanh niên, bậc Đạo Sư trong khi thương xót đã giáo huấn. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp thuộc về báu vật cao quý của Ngài, Chatta đã nói rằng: ‘Tôi sẽ thực hiện.’
BJT 897‘Ngươi hãy đi đến nương nhờ đấng Jina cao quý tối thượng, luôn cả Giáo Pháp nữa, và tương tự y như thế (với) Hội Chúng tỳ khưu.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói:—Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 898‘Và ngươi chớ thực hành việc giết hại sanh mạng theo nhiều cách, không trong sạch, bởi vì các bậc thiện trí đã không ngợi khen việc không kiềm chế đối với các sanh mạng.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói:—Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 899‘Và ngươi chớ nghĩ đến vật đã được gìn giữ thuộc về người khác, vật không nên được lấy đi, vật không được cho.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói: Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 900‘Và ngươi chớ đi đến những người vợ của kẻ khác, những người nữ đã được gìn giữ bởi người nam khác; việc này là không thánh thiện.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói: Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 901‘Và ngươi chớ nói việc không đúng sự thật, theo cách thức sai khác, bởi vì các bậc thiện trí đã không ngợi khen lời nói dối trá.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói: Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 902‘Và do vật nào mà sự nhận biết của con người lìa khỏi, ngươi hãy lánh xa tất cả chất say ấy.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói: Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.
BJT 903Tôi đây, ở nơi này, sau khi làm theo năm điều học, sau khi thực hành theo Giáo Pháp của đức Như lai, đã đi con đường nối liền hai ngôi làng, ở giữa những kẻ cướp. Chúng đã giết hại tôi ở tại nơi ấy vì nguyên nhân của cải.
BJT 904Tôi nhớ lại điều tốt đẹp này chỉ có chừng ấy, tôi không biết về điều gì khác hơn thế nữa. Do nghiệp đã khéo được thực hành ấy, tôi đã được sanh lên ở các cảnh giới chư Thiên, có các dục theo sự ao ước.
BJT 905Xin Ngài hãy nhìn xem quả thành tựu của sự thu thúc trong giây lát trong phút chốc nhờ vào sự thực hành thuận theo Giáo Pháp. Trong lúc nhìn thấy tôi tựa như đang chói sáng nhờ vào danh tiếng; nhiều người, có nghiệp hạ liệt, ganh tỵ với tôi.
BJT 906Xin Ngài hãy nhìn xem, nhờ vào sự thuyết giảng chút ít, tôi đã đi đến cõi Trời và đã đạt đến an lạc. Còn những người nào thường xuyên lắng nghe Giáo Pháp, tôi nghĩ rằng những người ấy chạm đến Bất Tử, sự an toàn.
BJT 907Việc đã được làm, dầu chỉ chút ít, ở Giáo Pháp của đức Như Lai là có quả thành tựu vĩ đại, bao la. Xin Ngài hãy nhìn xem, với phước thiện đã làm, Chatta làm cho trái đất chói sáng, thậm chí giống như mặt trời.
BJT 908Việc tốt đẹp này là gì? Chúng ta nên thực hành điều gì? Nhiều người, sau khi gặp nhau bàn thảo như thế. Chúng ta đây đã đạt được bản thể nhân loại thêm lần nữa; đã được đạt đến, chúng ta hãy sống có giới hạnh.
BJT 909Và bậc Đạo Sư, với nhiều sự tiếp độ, bậc có lòng thương tưởng, đã đi đến với tôi vào lúc sáng sớm, khi tôi còn sống, tôi đây đã đi đến gặp bậc có tên là Sự Thật (nói rằng): ‘Xin Ngài hãy thương tưởng, hãy để chúng tôi nghe Giáo Pháp thêm lần nữa.’
BJT 910Và ở đây, những vị nào dứt bỏ sự luyến ái ở các dục, sau khi dứt bỏ sự tiềm ẩn về hữu ái, và si mê, các vị ấy không đi đến thai bào lần nữa, bởi vì các vị đã ngự đến cảnh giới Niết Bàn, có trạng thái mát mẻ.”
Thiên Cung của Thanh Niên Bà-la-môn Chatta.
“Yo vadataṁ pavaro manujesu,
Sakyamunī bhagavā katakicco;
Pāragato balaviriyasamaṅgī,
Taṁ sugataṁ saraṇatthamupehi.
Rāgavirāgamanejamasokaṁ,
Dhammamasaṅkhatamappaṭikūlaṁ;
Madhuramimaṁ paguṇaṁ suvibhattaṁ,
Dhammamimaṁ saraṇatthamupehi.
Yattha ca dinna mahapphalamāhu,
Catūsu sucīsu purisayugesu;
Aṭṭha ca puggaladhammadasā te,
Saṅghamimaṁ saraṇatthamupehi.
Na tathā tapati nabhe sūriyo,
Cando ca na bhāsati na phusso;
Yathā atulamidaṁ mahappabhāsaṁ,
Ko nu tvaṁ tidivā mahiṁ upāgā.
Chindati raṁsī pabhaṅkarassa,
Sādhikavīsatiyojanāni ābhā;
Rattimapi yathā divaṁ karoti,
Parisuddhaṁ vimalaṁ subhaṁ vimānaṁ.
Bahupadumavicitrapuṇḍarīkaṁ,
Vokiṇṇaṁ kusumehi nekacittaṁ;
Arajavirajahemajālachannaṁ,
Ākāse tapati yathāpi sūriyo.
Rattambarapītavāsasāhi,
Agarupiyaṅgucandanussadāhi;
Kañcanatanusannibhattacāhi,
Paripūraṁ gaganaṁva tārakāhi.
Naranāriyo bahuketthanekavaṇṇā,
Kusumavibhūsitābharaṇettha sumanā;
Anilapamuñcitā pavanti surabhiṁ,
Tapaniyavitatā suvaṇṇachannā.
Kissa saṁyamassa ayaṁ vipāko,
Kenāsi kammaphalenidhūpapanno;
Yathā ca te adhigatamidaṁ vimānaṁ,
Tadanupadaṁ avacāsi iṅgha puṭṭho”ti.
“Sayamidha pathe samecca māṇavena,
Satthānusāsi anukampamāno;
Tava ratanavarassa dhammaṁ sutvā,
Karissāmīti ca bravittha chatto.
Jinavarapavaraṁ upehi saraṇaṁ,
Dhammañcāpi tatheva bhikkhusaṅghaṁ;
Noti paṭhamaṁ avocahaṁ bhante,
Pacchā te vacanaṁ tathevakāsiṁ.
Mā ca pāṇavadhaṁ vividhaṁ carassu asuciṁ,
Na hi pāṇesu asaññataṁ avaṇṇayiṁsu sappaññā;
Noti paṭhamaṁ avocahaṁ bhante,
Pacchā te vacanaṁ tathevakāsiṁ.
Mā ca parajanassa rakkhitampi,
Ādātabbamamaññitho adinnaṁ;
Noti paṭhamaṁ avocahaṁ bhante,
Pacchā te vacanaṁ tathevakāsiṁ.
Mā ca parajanassa rakkhitāyo,
Parabhariyā agamā anariyametaṁ;
Noti paṭhamaṁ avocahaṁ bhante,
Pacchā te vacanaṁ tathevakāsiṁ.
Mā ca vitathaṁ aññathā abhāṇi,
Na hi musāvādaṁ avaṇṇayiṁsu sappaññā;
Noti paṭhamaṁ avocahaṁ bhante,
Pacchā te vacanaṁ tathevakāsiṁ.
Yena ca purisassa apeti saññā,
Taṁ majjaṁ parivajjayassu sabbaṁ;
Noti paṭhamaṁ avocahaṁ bhante,
Pacchā te vacanaṁ tathevakāsiṁ.
Svāhaṁ idha pañca sikkhā karitvā,
Paṭipajjitvā tathāgatassa dhamme;
Dvepathamagamāsiṁ coramajjhe,
Te maṁ tattha vadhiṁsu bhogahetu.
Ettakamidaṁ anussarāmi kusalaṁ,
Tato paraṁ na me vijjati aññaṁ;
Tena sucaritena kammunāhaṁ,
Uppanno tidivesu kāmakāmī.
Passa khaṇamuhuttasaññamassa,
Anudhammappaṭipattiyā vipākaṁ;
Jalamiva yasasā samekkhamānā,
Bahukā maṁ pihayanti hīnakammā.
Passa katipayāya desanāya,
Sugatiñcamhi gato sukhañca patto;
Ye ca te satataṁ suṇanti dhammaṁ,
Maññe te amataṁ phusanti khemaṁ.
Appampi kataṁ mahāvipākaṁ,
Vipulaṁ hoti tathāgatassa dhamme;
Passa katapuññatāya chatto,
Obhāseti pathaviṁ yathāpi sūriyo.
Kimidaṁ kusalaṁ kimācarema,
Icceke hi samecca mantayanti;
Te mayaṁ punareva laddha mānusattaṁ,
Paṭipannā viharemu sīlavanto.
Bahukāro anukampako ca satthā,
Iti me sati agamā divā divassa;
Svāhaṁ upagatomhi saccanāmaṁ,
Anukampassu punapi suṇemu dhammaṁ.
Ye cidha pajahanti kāmarāgaṁ,
Bhavarāgānusayañca pahāya mohaṁ;
Na ca te punamupenti gabbhaseyyaṁ,
Parinibbānagatā hi sītibhūtā”ti.
Chattamāṇavakavimānaṁ tatiyaṁ.
Narrator:
These three verses contain the qualities of the Triple Gem and were taught to a boy named Chatta by the Supreme Buddha who asked him to go for refuge.
The Sage of the Sakyan clan, the Supreme Buddha, who completed the journey to Nibbana, is the best among humans. The Blessed One crossed over Samsara with his excellent wisdom and effort. Go for refuge to this Great Teacher, the Supreme Buddha.
The Dhamma, taught by the Supreme Buddha, helps beings remove desires, craving, and sorrows. This sweet, well explained, well analyzed Dhamma is never disagreeable. Go for refuge to this great teaching, the Supreme Dhamma.
The Blessed One’s noble disciples consist of the Four Pairs and the Eight Individuals. Those who offer gifts to these people gain fruitful results. Go for refuge to these excellent disciples, the Supreme Sangha.
Narrator:
After Chatta’s death he was reborn as a deva. One day he went to see the Supreme Buddha. In order for others to learn about merit, the Supreme Buddha then questioned him in the following way.
Supreme Buddha:
Neither the sun, nor the moon, nor the star Phusa is as bright as your mansion. Your large bright mansion shines in the sky brilliantly. What heavenly world did you come from today?
The radiance of your mansion can be seen for more than two thousand kilometers. This beautiful mansion shines both at night and day – pure, bright, and brilliant.
Around the palace there are beautiful flowers – red lotuses, white lotuses, and water lilies. Golden nets with fancy carvings are hanging there; they too shine like the sun. The mansion is decorated with divine red and yellow cloth and filled with the sweet fragrance of aloe, piyangu, and sandalwood. The mansion is surrounded by devatas with bright golden-colored bodies. It looks like the beautiful night sky covered by stars.
Devas and devatas are different colors here. Their bodies and hair are decorated with various flowers and ornaments. Golden flowers release a sweet smell when the breeze blows.
How did you receive these wonderful things? What meritorious action did you do to have gained this wonderful result? Is it because of your virtue or restrained life? Could you please explain it to me?
Devata:
One day a boy was walking on a road. You, the Great Teacher, met him and advised him by preaching the Dhamma. That boy, Chatta, promised to follow you, the Great Teacher, like a precious gem.
I was that boy, Bhante. When you asked me to go for refuge to the Buddha, the Great Victor, the Dhamma and the Noble Sangha, at first I told you that I did not know what they were. Once you had explained them to me, I went for refuge to the Triple Gem.
Wise people do not praise the actions of evil people who kill. You asked me if I knew about the precept of abstaining from killing living beings. At first I told you that I did not know about it. Once you had explained it to me, I observed that precept.
You asked me if I knew about the precept of not taking others’ belongings if they are not given to us. At first I told you that I did not know about it. Once you had explained it to me, I observed that precept.
You asked me if I knew about the precept of not going to others’ wives since it is a very low thing. At first I told you that I did not know about it. Once you had explained it to me, I observed that precept.
You asked me if I knew about the precept of not saying things as if they were true when I know they are not. Lying is not praised by the wise. At first I told you that I did not know about it. Once you had explained it to me, I observed that precept.
You asked me if I knew about the precept of not using intoxicants, by which one loses mindfulness. At first I told you that I did not know about it. Once you had explained it to me, I observed that precept.
On that day, I observed the Five Precepts and followed the Great Teacher’s Dhamma. Later, when I reached an intersection on the road, I was surrounded by a gang of robbers. They killed me just to take my money.
Going for refuge and observing the Five Precepts is the only merit I recollect doing. I did not obtain any other merit in my life. As a result of those meritorious deeds, I was reborn in this Tavatimsa Heaven and now experience all the happiness that I wish for.
I kept those precepts for just a moment. Look at the amazing result of practicing the Dhamma! When devas with lesser pleasures than I have seen me shining brilliantly with superior pleasures, they wish to be like me.
Think about the excellence of a very brief teaching. I went to heaven and received divine happiness. If that is the case, I think those who listen to this Dhamma frequently will surely attain the state of fearlessness, the supreme bliss of Nibbana.
Even if a very small meritorious deed is practiced in this Dhamma, very great results can be expected. Look at the god Chatta who collected merit, lighting up heaven like the sun illuminating the earth.
Some gods get together and talk about me saying, “What are the meritorious deeds that he did to have gained these results? What kind of good things should be practiced? When we gain a human birth again, we will observe the Precepts and practice the Dhamma.”
My great teacher helped me very much. He was compassionate towards me and came to meet me, under the hot sun. Today I have come to you again, Great Teacher. You are the truth in this world. Please be compassionate towards me. I would like to listen to the Dhamma.
When the disciples in this teaching abandon sensual desire, desire for existence, and delusion, they will never come back to sleep in the mother’s womb. They attain final Nibbana at passing away and become calm.
BJT 887“Vị nào là đấng quý cao trong số các bậc thuyết giảng của loài người, là bậc Hiền Trí dòng Sakya, đức Thế Tôn, có phận sự đã làm xong, đã đi đến bờ kia, có được sức mạnh và sự tinh tấn; ngươi hãy đến gần đấng Thiện Thệ ấy với mục đích nương nhờ.
BJT 888Giáo Pháp này không nhiễm ái luyến, không dục vọng, không sầu muộn, không bị tạo tác, không đáng ghét, ngọt ngào, có sự hoàn thiện, khéo được phân tích; ngươi hãy đến gần Giáo Pháp này với mục đích nương nhờ.
BJT 889Và nơi nào người ta đã nói vật được bố thí là có quả báo lớn, (tức là) ở bốn đôi của hạng người trong sạch; tám hạng ấy là các cá nhân đã nhìn thấy Giáo Pháp; ngươi hãy đến gần Hội Chúng này với mục đích nương nhờ.”
BJT 890“Không giống như mặt trời chói sáng ở bầu không gian, mặt trăng và sao Phussa đều không chiếu sáng giống như người này, vị có ánh sáng vĩ đại, không thể đo lường; ngươi là ai mà đã từ cõi Ba Mươi (Ba) đi đến trái đất?
BJT 891Ánh sáng với sự vượt trội hai mươi do-tuần cắt đứt các ánh hào quang của mặt trời, và làm cho ban đêm cũng giống như ban ngày. Thiên cung là hoàn toàn trong sạch, không bụi bặm, xinh đẹp.
BJT 892Với nhiều sen trắng, sen hồng nhiều màu sắc, được trộn lẫn với các bông hoa, được tô điểm nhiều màu sắc, được bao phủ bởi mạng lưới vàng không bụi, sạch bụi, (Thiên cung ấy) chói sáng ở không trung cũng giống như mặt trời.
BJT 893Với các tấm vải màu đỏ và y phục màu vàng, với các chất bôi thơm như là agaru, piyaṅgu, và trầm hương, với các làn da mềm mại tựa như vàng, (Thiên cung ấy) được hoàn mãn tựa như bầu trời được hoàn mãn nhờ vào các vì sao.
BJT 894Ở đây, có nhiều người nam người nữ với nhiều sắc thái, ở đây là những người có thiện tâm, có các đồ trang sức được điểm trang với các bông hoa, được tự do theo làn gió, tỏa ra hương thơm, được trải rộng với (dây buộc bằng) vàng (ở bím tóc), có y phục bằng vàng.
BJT 895Quả thành tựu này là do sự an tịnh và rèn luyện nào? Do kết quả của việc làm nào mà ngươi đã được sanh ra ở nơi đây? Và như thế nào mà ngươi đã được ngự đến cung điện này? Nào, đã được hỏi, ngươi hãy nói về điều ấy theo từng phần một.”
BJT 896“Bởi vì, tại nơi đây, ở con đường lộ, sau khi gặp gỡ với người thanh niên, bậc Đạo Sư trong khi thương xót đã giáo huấn. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp thuộc về báu vật cao quý của Ngài, Chatta đã nói rằng: ‘Tôi sẽ thực hiện.’
BJT 897‘Ngươi hãy đi đến nương nhờ đấng Jina cao quý tối thượng, luôn cả Giáo Pháp nữa, và tương tự y như thế (với) Hội Chúng tỳ khưu.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói:—Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 898‘Và ngươi chớ thực hành việc giết hại sanh mạng theo nhiều cách, không trong sạch, bởi vì các bậc thiện trí đã không ngợi khen việc không kiềm chế đối với các sanh mạng.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói:—Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 899‘Và ngươi chớ nghĩ đến vật đã được gìn giữ thuộc về người khác, vật không nên được lấy đi, vật không được cho.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói: Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 900‘Và ngươi chớ đi đến những người vợ của kẻ khác, những người nữ đã được gìn giữ bởi người nam khác; việc này là không thánh thiện.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói: Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 901‘Và ngươi chớ nói việc không đúng sự thật, theo cách thức sai khác, bởi vì các bậc thiện trí đã không ngợi khen lời nói dối trá.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói: Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 902‘Và do vật nào mà sự nhận biết của con người lìa khỏi, ngươi hãy lánh xa tất cả chất say ấy.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói: Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.
BJT 903Tôi đây, ở nơi này, sau khi làm theo năm điều học, sau khi thực hành theo Giáo Pháp của đức Như lai, đã đi con đường nối liền hai ngôi làng, ở giữa những kẻ cướp. Chúng đã giết hại tôi ở tại nơi ấy vì nguyên nhân của cải.
BJT 904Tôi nhớ lại điều tốt đẹp này chỉ có chừng ấy, tôi không biết về điều gì khác hơn thế nữa. Do nghiệp đã khéo được thực hành ấy, tôi đã được sanh lên ở các cảnh giới chư Thiên, có các dục theo sự ao ước.
BJT 905Xin Ngài hãy nhìn xem quả thành tựu của sự thu thúc trong giây lát trong phút chốc nhờ vào sự thực hành thuận theo Giáo Pháp. Trong lúc nhìn thấy tôi tựa như đang chói sáng nhờ vào danh tiếng; nhiều người, có nghiệp hạ liệt, ganh tỵ với tôi.
BJT 906Xin Ngài hãy nhìn xem, nhờ vào sự thuyết giảng chút ít, tôi đã đi đến cõi Trời và đã đạt đến an lạc. Còn những người nào thường xuyên lắng nghe Giáo Pháp, tôi nghĩ rằng những người ấy chạm đến Bất Tử, sự an toàn.
BJT 907Việc đã được làm, dầu chỉ chút ít, ở Giáo Pháp của đức Như Lai là có quả thành tựu vĩ đại, bao la. Xin Ngài hãy nhìn xem, với phước thiện đã làm, Chatta làm cho trái đất chói sáng, thậm chí giống như mặt trời.
BJT 908Việc tốt đẹp này là gì? Chúng ta nên thực hành điều gì? Nhiều người, sau khi gặp nhau bàn thảo như thế. Chúng ta đây đã đạt được bản thể nhân loại thêm lần nữa; đã được đạt đến, chúng ta hãy sống có giới hạnh.
BJT 909Và bậc Đạo Sư, với nhiều sự tiếp độ, bậc có lòng thương tưởng, đã đi đến với tôi vào lúc sáng sớm, khi tôi còn sống, tôi đây đã đi đến gặp bậc có tên là Sự Thật (nói rằng): ‘Xin Ngài hãy thương tưởng, hãy để chúng tôi nghe Giáo Pháp thêm lần nữa.’
BJT 910Và ở đây, những vị nào dứt bỏ sự luyến ái ở các dục, sau khi dứt bỏ sự tiềm ẩn về hữu ái, và si mê, các vị ấy không đi đến thai bào lần nữa, bởi vì các vị đã ngự đến cảnh giới Niết Bàn, có trạng thái mát mẻ.”
Thiên Cung của Thanh Niên Bà-la-môn Chatta.
“Yo vadataṁ pavaro manujesu,
Sakyamunī bhagavā katakicco;
Pāragato balaviriyasamaṅgī,
Taṁ sugataṁ saraṇatthamupehi.
Rāgavirāgamanejamasokaṁ,
Dhammamasaṅkhatamappaṭikūlaṁ;
Madhuramimaṁ paguṇaṁ suvibhattaṁ,
Dhammamimaṁ saraṇatthamupehi.
Yattha ca dinna mahapphalamāhu,
Catūsu sucīsu purisayugesu;
Aṭṭha ca puggaladhammadasā te,
Saṅghamimaṁ saraṇatthamupehi.
Na tathā tapati nabhe sūriyo,
Cando ca na bhāsati na phusso;
Yathā atulamidaṁ mahappabhāsaṁ,
Ko nu tvaṁ tidivā mahiṁ upāgā.
Chindati raṁsī pabhaṅkarassa,
Sādhikavīsatiyojanāni ābhā;
Rattimapi yathā divaṁ karoti,
Parisuddhaṁ vimalaṁ subhaṁ vimānaṁ.
Bahupadumavicitrapuṇḍarīkaṁ,
Vokiṇṇaṁ kusumehi nekacittaṁ;
Arajavirajahemajālachannaṁ,
Ākāse tapati yathāpi sūriyo.
Rattambarapītavāsasāhi,
Agarupiyaṅgucandanussadāhi;
Kañcanatanusannibhattacāhi,
Paripūraṁ gaganaṁva tārakāhi.
Naranāriyo bahuketthanekavaṇṇā,
Kusumavibhūsitābharaṇettha sumanā;
Anilapamuñcitā pavanti surabhiṁ,
Tapaniyavitatā suvaṇṇachannā.
Kissa saṁyamassa ayaṁ vipāko,
Kenāsi kammaphalenidhūpapanno;
Yathā ca te adhigatamidaṁ vimānaṁ,
Tadanupadaṁ avacāsi iṅgha puṭṭho”ti.
“Sayamidha pathe samecca māṇavena,
Satthānusāsi anukampamāno;
Tava ratanavarassa dhammaṁ sutvā,
Karissāmīti ca bravittha chatto.
Jinavarapavaraṁ upehi saraṇaṁ,
Dhammañcāpi tatheva bhikkhusaṅghaṁ;
Noti paṭhamaṁ avocahaṁ bhante,
Pacchā te vacanaṁ tathevakāsiṁ.
Mā ca pāṇavadhaṁ vividhaṁ carassu asuciṁ,
Na hi pāṇesu asaññataṁ avaṇṇayiṁsu sappaññā;
Noti paṭhamaṁ avocahaṁ bhante,
Pacchā te vacanaṁ tathevakāsiṁ.
Mā ca parajanassa rakkhitampi,
Ādātabbamamaññitho adinnaṁ;
Noti paṭhamaṁ avocahaṁ bhante,
Pacchā te vacanaṁ tathevakāsiṁ.
Mā ca parajanassa rakkhitāyo,
Parabhariyā agamā anariyametaṁ;
Noti paṭhamaṁ avocahaṁ bhante,
Pacchā te vacanaṁ tathevakāsiṁ.
Mā ca vitathaṁ aññathā abhāṇi,
Na hi musāvādaṁ avaṇṇayiṁsu sappaññā;
Noti paṭhamaṁ avocahaṁ bhante,
Pacchā te vacanaṁ tathevakāsiṁ.
Yena ca purisassa apeti saññā,
Taṁ majjaṁ parivajjayassu sabbaṁ;
Noti paṭhamaṁ avocahaṁ bhante,
Pacchā te vacanaṁ tathevakāsiṁ.
Svāhaṁ idha pañca sikkhā karitvā,
Paṭipajjitvā tathāgatassa dhamme;
Dvepathamagamāsiṁ coramajjhe,
Te maṁ tattha vadhiṁsu bhogahetu.
Ettakamidaṁ anussarāmi kusalaṁ,
Tato paraṁ na me vijjati aññaṁ;
Tena sucaritena kammunāhaṁ,
Uppanno tidivesu kāmakāmī.
Passa khaṇamuhuttasaññamassa,
Anudhammappaṭipattiyā vipākaṁ;
Jalamiva yasasā samekkhamānā,
Bahukā maṁ pihayanti hīnakammā.
Passa katipayāya desanāya,
Sugatiñcamhi gato sukhañca patto;
Ye ca te satataṁ suṇanti dhammaṁ,
Maññe te amataṁ phusanti khemaṁ.
Appampi kataṁ mahāvipākaṁ,
Vipulaṁ hoti tathāgatassa dhamme;
Passa katapuññatāya chatto,
Obhāseti pathaviṁ yathāpi sūriyo.
Kimidaṁ kusalaṁ kimācarema,
Icceke hi samecca mantayanti;
Te mayaṁ punareva laddha mānusattaṁ,
Paṭipannā viharemu sīlavanto.
Bahukāro anukampako ca satthā,
Iti me sati agamā divā divassa;
Svāhaṁ upagatomhi saccanāmaṁ,
Anukampassu punapi suṇemu dhammaṁ.
Ye cidha pajahanti kāmarāgaṁ,
Bhavarāgānusayañca pahāya mohaṁ;
Na ca te punamupenti gabbhaseyyaṁ,
Parinibbānagatā hi sītibhūtā”ti.
Chattamāṇavakavimānaṁ tatiyaṁ.