BJT 124“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 125Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 126Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 127Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 128“Tôi không có ganh tỵ, bỏn xẻn, hằn học trong khi sống ở gia đình, không có giận dữ, có sự tuân theo lệnh của chồng, tôi luôn luôn không xao lãng trong ngày trai giới.
BJT 129Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng là có sự thọ trì tốt đẹp về tám giới.
BJT 130Tôi đã hành trì ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới. Tôi cư ngụ ở tòa lâu đài, có sự tự kiềm chế, có sự san sẻ.
BJT 131Tôi kiêng chừa việc giết hại mạng sống, và thu thúc về việc nói dối, việc trộm cắp, việc tà hạnh, và xa lánh việc uống chất say.
BJT 132Tôi được vui thích ở năm điều học, là người thông hiểu các Chân Lý Cao Thượng, là nữ cư sĩ của đấng Hữu Nhãn Gotama có danh tiếng.
BJT 133Tôi đây có sự nổi tiếng nhờ vào giới hạnh và danh tiếng của mình. Và tôi đã thành tựu phước báu của mình, được an vui, không tật bệnh.
BJT 134Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 135Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.
Thiên Cung của Uttarā.
“Abhikkantena vaṇṇena,
yā tvaṁ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
osadhī viya tārakā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
Sā devatā attamanā,
moggallānena pucchitā;
Pañhaṁ puṭṭhā viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Issā ca maccheramatho paḷāso,
Nāhosi mayhaṁ gharamāvasantiyā;
Akkodhanā bhattu vasānuvattinī,
Uposathe niccahamappamattā.
Cātuddasiṁ pañcadasiṁ,
yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca,
aṭṭhaṅgasusamāgataṁ.
Uposathaṁ upavasissaṁ,
sadā sīlesu saṁvutā;
Saññamā saṁvibhāgā ca,
vimānaṁ āvasāmahaṁ.
Pāṇātipātā viratā,
musāvādā ca saññatā;
Theyyā ca aticārā ca,
majjapānā ca ārakā.
Pañcasikkhāpade ratā,
ariyasaccāna kovidā;
Upāsikā cakkhumato,
gotamassa yasassino.
Sāhaṁ sakena sīlena,
yasasā ca yasassinī;
Anubhomi sakaṁ puññaṁ,
sukhitā camhināmayā.
Tena metādiso vaṇṇo,
tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā,
ye keci manaso piyā.
Akkhāmi te bhikkhu mahānubhāva,
Manussabhūtā yamahaṁ akāsiṁ;
Tenamhi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatīti.
Mama ca, bhante, vacanena bhagavato pāde sirasā vandeyyāsi—
‘uttarā nāma, bhante, upāsikā bhagavato pāde sirasā vandatī’ti.
Anacchariyaṁ kho panetaṁ, bhante, yaṁ maṁ bhagavā aññatarasmiṁ sāmaññaphale byākareyya, taṁ bhagavā sakadāgāmiphale byākāsī”ti.
Uttarāvimānaṁ pannarasamaṁ.
Moggallana Bhante:
Devata, your beauty shines in all directions like the bright star named Osadhi.
What are the meritorious deeds that led to this happiness?
Tell me Devata, what kind of meritorious action did you do when you were in the human world to have gained this beauty that shines in all directions, and to have earned all these wonderful things?
Narrator:
That devata, delighted at being questioned by Arahant Moggallana, gladly explained what she had done that resulted in such great happiness.
Devata:
In my previous life, I was a housewife in the human world. I did not envy anyone. I was not greedy, nor was I arrogant. I was obedient to my husband and did not get angry at him. I was eager to observe the Eight Precepts four times a month on each of the four moon phases. I led a restrained life and was very generous.
I abstained from killing, stealing, lying, and taking intoxicants. I did not cheat on my husband. I was delighted to keep these Five Precepts every day. I was a lay follower of Gautama Supreme Buddha who had the great wisdom to see the reality of the world. I was wise enough to realize the Four Noble Truths.
Because of my virtuous life and meritorious deeds, I live very happily here. I have been born as a beautiful devata and enjoy all the wonderful things that delight my heart.
Great Bhante, those were the meritorious deeds I did to have such a beautiful body that shines in all directions.
Please Bhante, pay homage on my behalf by placing your head on the Blessed One’s sacred feet and saying, “Bhante, the lay follower named Uttara pays homage by placing her head on the Blessed One’s sacred feet.” The Blessed One stated that I have attained a certain fruit of enlightenment. I too know that.
Bhante, the Supreme Buddha declared that I have attained the fruit of once returner.
BJT 124“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 125Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 126Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 127Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 128“Tôi không có ganh tỵ, bỏn xẻn, hằn học trong khi sống ở gia đình, không có giận dữ, có sự tuân theo lệnh của chồng, tôi luôn luôn không xao lãng trong ngày trai giới.
BJT 129Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng là có sự thọ trì tốt đẹp về tám giới.
BJT 130Tôi đã hành trì ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới. Tôi cư ngụ ở tòa lâu đài, có sự tự kiềm chế, có sự san sẻ.
BJT 131Tôi kiêng chừa việc giết hại mạng sống, và thu thúc về việc nói dối, việc trộm cắp, việc tà hạnh, và xa lánh việc uống chất say.
BJT 132Tôi được vui thích ở năm điều học, là người thông hiểu các Chân Lý Cao Thượng, là nữ cư sĩ của đấng Hữu Nhãn Gotama có danh tiếng.
BJT 133Tôi đây có sự nổi tiếng nhờ vào giới hạnh và danh tiếng của mình. Và tôi đã thành tựu phước báu của mình, được an vui, không tật bệnh.
BJT 134Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 135Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.
Thiên Cung của Uttarā.
“Abhikkantena vaṇṇena,
yā tvaṁ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
osadhī viya tārakā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
Sā devatā attamanā,
moggallānena pucchitā;
Pañhaṁ puṭṭhā viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Issā ca maccheramatho paḷāso,
Nāhosi mayhaṁ gharamāvasantiyā;
Akkodhanā bhattu vasānuvattinī,
Uposathe niccahamappamattā.
Cātuddasiṁ pañcadasiṁ,
yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca,
aṭṭhaṅgasusamāgataṁ.
Uposathaṁ upavasissaṁ,
sadā sīlesu saṁvutā;
Saññamā saṁvibhāgā ca,
vimānaṁ āvasāmahaṁ.
Pāṇātipātā viratā,
musāvādā ca saññatā;
Theyyā ca aticārā ca,
majjapānā ca ārakā.
Pañcasikkhāpade ratā,
ariyasaccāna kovidā;
Upāsikā cakkhumato,
gotamassa yasassino.
Sāhaṁ sakena sīlena,
yasasā ca yasassinī;
Anubhomi sakaṁ puññaṁ,
sukhitā camhināmayā.
Tena metādiso vaṇṇo,
tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā,
ye keci manaso piyā.
Akkhāmi te bhikkhu mahānubhāva,
Manussabhūtā yamahaṁ akāsiṁ;
Tenamhi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatīti.
Mama ca, bhante, vacanena bhagavato pāde sirasā vandeyyāsi—
‘uttarā nāma, bhante, upāsikā bhagavato pāde sirasā vandatī’ti.
Anacchariyaṁ kho panetaṁ, bhante, yaṁ maṁ bhagavā aññatarasmiṁ sāmaññaphale byākareyya, taṁ bhagavā sakadāgāmiphale byākāsī”ti.
Uttarāvimānaṁ pannarasamaṁ.