BJT 620“Này cô nàng có danh tiếng, trong lúc tỏa sáng rực rỡ nhờ vào làn da và danh tiếng, nàng sáng chói vượt trội tất cả chư Thiên ở cõi Trời Ba Mươi Ba về phương diện sắc đẹp.
BJT 621Tôi không biết rõ về việc gặp gỡ (trong quá khứ); đây là lần gặp gỡ đầu tiên. Từ tập thể nào nàng đã đi đến? Nàng hãy chuyện trò với tôi theo tên gọi (Bhaddā).”
BJT 622“Này Bhaddā, trong thời quá khứ ở cảnh giới loài người, tôi đã là Subhaddā. Tôi đã là em gái, và là người vợ có chung chồng với chị.
BJT 623Tôi đây, do sự tan rã của thân xác, đã chết từ nơi ấy, đã được giải thoát; tôi đã được sanh lên cộng trú với chư Thiên cõi Hóa Lạc.”
BJT 624“Các chúng sinh đã tạo được nhiều việc tốt đẹp (có phước báu lớn lao) đi đến với chư Thiên ấy. Này Subhaddā, nàng hãy thuật lại việc sanh ra của bản thân ở nơi chư Thiên ấy.
BJT 625Bằng cách nào, bởi lý do nào, hoặc đã được ai chỉ dạy, do sự bố thí thuộc loại thế nào, với sự thọ trì tốt lành nào mà nàng có được danh tiếng?
BJT 626Nàng đã đạt được danh tiếng như thế này. Nàng đã đạt đến trạng thái đặc biệt, lớn lao. Này nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 627“Được tịnh tín, trước đây tôi đã tự tay dâng cúng vật bố thí chỉ là tám phần đồ ăn khất thực đến hội chúng xứng đáng được cúng dường.
BJT 628Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 629Thưa vị nữ Thiên nhân có đại oai lực, tôi trình bày cho chị về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
BJT 630“Được tịnh tín, tôi đã tự tay chuẩn bị cơm nước cho các vị tỳ khưu đã được thu thúc, có sự thực hành Phạm hạnh, nhiều hơn so với nàng. Sau khi dâng cúng nhiều hơn nàng, tôi đã đi đến tập thể thấp kém.
BJT 631Sau khi dâng cúng ít hơn tôi, như thế nào mà nàng đã đạt đến trạng thái đặc biệt, lớn lao? Này nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 632“Trước đây, tôi đã gặp vị tỳ khưu đáng được tôn kính. Tôi đã thỉnh mời vị Revata ấy về bữa thọ trai với bản thân vị ấy là người thứ tám.
BJT 633Quan tâm đến lợi ích của tôi, vị Revata ấy, vì lòng thương tưởng, đã nói với tôi rằng: ‘Hãy dâng cúng ở Hội Chúng;’ tôi đã làm theo lời nói của vị ấy.
BJT 634Việc cúng dường ấy được dâng đến Hội Chúng (sẽ) được thiết lập ở vô lượng; việc bố thí ấy (nếu) được dâng cúng ở các cá nhân thì (sẽ) không có quả báo lớn lao cho chị.”
BJT 635“Ngay giờ đây, tôi biết rằng vật được dâng cúng ở Hội Chúng có quả báo lớn lao. Sau khi đi đến bản thể loài người, tôi đây, với sự ân cần, với sự bỏn xẻn đã được xa lìa, tôi sẽ dâng cúng các vật thí ở Hội Chúng lần này đến lần khác, không bị xao lãng.”
BJT 636“Này Bhaddā, Thiên nhân ấy là ai mà trò chuyện với nàng, và sáng chói vượt trội tất cả chư Thiên ở cõi Trời Ba Mươi Ba về phương diện sắc đẹp?”
BJT 637“Thưa vị Chúa của chư Thiên, trong thời quá khứ khi là con người ở cảnh giới loài người, nàng đã là người vợ có chung chồng với thiếp và còn là người em gái của thiếp. Sau khi dâng cúng các vật thí ở Hội Chúng, nàng chói sáng với phước báu đã tạo.”
BJT 638“Này Bhaddā, người em gái trong thời quá khứ chói sáng hơn nàng bởi lý do nàng ấy đã tạo lập sự cúng dường ở Hội Chúng vô lượng.
BJT 639Bởi vì, ở núi Gijjhakūṭa, ta đã hỏi đức Phật về quả thành tựu của sự san sẻ, về vật được dâng cúng ở nơi nào thì có quả báo lớn lao.
BJT 640Đối với những con người đang hiến cúng, đối với các chúng sinh mong mỏi phước báu đang thực hiện phước thiện có liên quan đến việc tái sanh, vật được dâng cúng ở nơi nào thì có quả báo lớn lao.
BJT 641Đức Phật, biết về quả báo của nghiệp ở từng trường hợp, đã giải thích điều ấy cho ta về quả thành tựu của sự san sẻ, về vật được dâng cúng ở nơi nào thì có quả báo lớn lao.
BJT 642Bốn hạng đã thực hành (bốn Đạo) và bốn hạng đã trụ ở Quả vị (bốn Quả), Hội Chúng ấy có bản thể chính trực, có Giới—Định—Tuệ.
BJT 643Đối với những con người đang hiến cúng, đối với các chúng sinh mong mỏi phước báu đang thực hiện phước thiện có liên quan đến việc tái sanh, vật được dâng cúng ở Hội Chúng thì có quả báo lớn lao.
BJT 644Bởi vì Hội Chúng ấy là bao la, đã đi đến sự vĩ đại. Hội Chúng ấy không thể đo lường, tựa như biển cả, đại dương. Chính những vị này là hạng nhất, là các đệ tử của bậc Anh Hùng trong số các nam nhân, là những đấng quang đăng tuyên thuyết Giáo Pháp.
BJT 645Những người nào dâng cúng vật thí xác định dành cho Hội Chúng, sự bố thí của những người ấy là đã khéo được dâng cúng, khéo được hiến dâng, khéo được hiến cúng. Sự cúng dường ấy, đã đi đến Hội Chúng, đã được tạo lập, có quả báo lớn lao, đã được các đấng Hiểu Biết Thế Gian khen ngợi.
BJT 646Những người nào đi lang thang ở thế gian với niềm vui đã được sanh khởi trong khi nhớ lại sự hiến cúng như thế ấy, (những người ấy) sau khi loại bỏ bợn nhơ của sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, không bị quở trách, và đi đến địa vị cõi Trời.”
Thiên Cung Tỏa Sáng Rực Rỡ.
“Daddallamānā vaṇṇena,
yasasā ca yasassinī;
Sabbe deve tāvatiṁse,
vaṇṇena atirocasi.
Dassanaṁ nābhijānāmi,
idaṁ paṭhamadassanaṁ;
Kasmā kāyā nu āgamma,
nāmena bhāsase maman”ti.
“Ahaṁ bhadde subhaddāsiṁ,
pubbe mānusake bhave;
Sahabhariyā ca te āsiṁ,
bhaginī ca kaniṭṭhikā.
Sā ahaṁ kāyassa bhedā,
vippamuttā tato cutā;
Nimmānaratīnaṁ devānaṁ,
upapannā sahabyatan”ti.
“Pahūtakatakalyāṇā,
te deve yanti pāṇino;
Yesaṁ tvaṁ kittayissasi,
subhadde jātimattano.
Atha tvaṁ kena vaṇṇena,
kena vā anusāsitā;
Kīdiseneva dānena,
subbatena yasassinī.
Yasaṁ etādisaṁ pattā,
visesaṁ vipulamajjhagā;
Devate pucchitācikkha,
kissa kammassidaṁ phalan”ti.
“Aṭṭheva piṇḍapātāni,
yaṁ dānaṁ adadaṁ pure;
Dakkhiṇeyyassa saṅghassa,
pasannā sehi pāṇibhi.
Tena metādiso vaṇṇo,
…pe…
vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
“Ahaṁ tayā bahutare bhikkhū,
Saññate brahmacārayo;
Tappesiṁ annapānena,
Pasannā sehi pāṇibhi.
Tayā bahutaraṁ datvā,
hīnakāyūpagā ahaṁ;
Kathaṁ tvaṁ appataraṁ datvā,
visesaṁ vipulamajjhagā;
Devate pucchitācikkha,
kissa kammassidaṁ phalan”ti.
“Manobhāvanīyo bhikkhu,
sandiṭṭho me pure ahu;
Tāhaṁ bhattena nimantesiṁ,
revataṁ attanaṭṭhamaṁ.
So me atthapurekkhāro,
anukampāya revato;
Saṅghe dehīti maṁvoca,
tassāhaṁ vacanaṁ kariṁ.
Sā dakkhiṇā saṅghagatā,
appameyye patiṭṭhitā;
Puggalesu tayā dinnaṁ,
na taṁ tava mahapphalan”ti.
“Idānevāhaṁ jānāmi,
saṅghe dinnaṁ mahapphalaṁ;
Sāhaṁ gantvā manussattaṁ,
vadaññū vītamaccharā;
Saṅghe dānāni dassāmi,
appamattā punappunan”ti.
“Kā esā devatā bhadde,
tayā mantayate saha;
Sabbe deve tāvatiṁse,
vaṇṇena atirocatī”ti.
“Manussabhūtā devinda,
pubbe mānusake bhave;
Sahabhariyā ca me āsi,
bhaginī ca kaniṭṭhikā;
Saṅghe dānāni datvāna,
katapuññā virocatī”ti.
“Dhammena pubbe bhaginī,
tayā bhadde virocati;
Yaṁ saṅghamhi appameyye,
patiṭṭhāpesi dakkhiṇaṁ”.
“Pucchito hi mayā buddho,
gijjhakūṭamhi pabbate;
Vipākaṁ saṁvibhāgassa,
yattha dinnaṁ mahapphalaṁ.
Yajamānānaṁ manussānaṁ,
puññapekkhāna pāṇinaṁ;
Karotaṁ opadhikaṁ puññaṁ,
yattha dinnaṁ mahapphalaṁ.
Taṁ me buddho viyākāsi,
jānaṁ kammaphalaṁ sakaṁ;
Vipākaṁ saṁvibhāgassa,
yattha dinnaṁ mahapphalaṁ.
Cattāro ca paṭipannā,
cattāro ca phale ṭhitā;
Esa saṅgho ujubhūto,
paññāsīlasamāhito.
Yajamānānaṁ manussānaṁ,
puññapekkhāna pāṇinaṁ;
Karotaṁ opadhikaṁ puññaṁ,
saṅghe dinnaṁ mahapphalaṁ.
Eso hi saṅgho vipulo mahaggato,
Esappameyyo udadhīva sāgaro;
Ete hi seṭṭhā naravīrasāvakā,
Pabhaṅkarā dhammamudīrayanti.
Tesaṁ sudinnaṁ suhutaṁ suyiṭṭhaṁ,
Ye saṅghamuddissa dadanti dānaṁ;
Sā dakkhiṇā saṅghagatā patiṭṭhitā,
Mahapphalā lokavidūna vaṇṇitā.
Etādisaṁ yaññamanussarantā,
Ye vedajātā vicaranti loke;
Vineyya maccheramalaṁ samūlaṁ,
Aninditā saggamupenti ṭhānan”ti.
Daddallavimānaṁ chaṭṭhaṁ.
Devata Bhadda:
Devata, you are dazzling and shining in beauty, surrounded by many goddesses. You surpass all the other Tavatimsa devas in beauty.
I have not seen you before. This is the first time I have seen you. From which heaven did you come? You called me by name.
Devata Subhadda:
Dear sister, in my previous life when I was in the human world, my name was Subhadda. I was your younger sister and was a co-wife with you. After death, I departed the human world and was reborn among the devas in the Nimmanarati Heaven.
Devata Bhadda:
Those who have collected much merit are reborn in Nimmanarati Heaven. So you too have been born in this wonderful heaven, haven’t you? Famous devata, who taught you to collect merit? What kind of offering did you make? What kind of precepts did you follow? We ask you, how did you gain all these wonderful things? Please tell us what meritorious deed this is the result of.
Devata Subhadda:
In my previous life when I was in the human world, I had confidence in the community of monks. They were worthy of offerings, so I offered food to eight monks with my own hands.
Because of this meritorious deed, I have been born as a very beautiful devata and enjoy all the wonderful things that delight my heart.
Sister, that was the meritorious action I did to have such a beautiful body which shines in all directions.
Devata Bhadda:
My mind also had confidence in those monks. But I offered them much more food than you did. Yet, I have been born in a lower heavenly world than you. Having offered very little, how did you receive more happiness than me? Of what meritorious deed is this the result?
Devata Subhadda:
I knew a noble monk named Revata and was inspired by him. One day I invited eight monks along with Revata Bhante, with the intention of making individual offerings. Out of compassion for me, and to help me gain more merit, Revata Bhante told me not to make individual offerings but to make an offering to the Noble Sangha, the whole community of monks. I did exactly as he advised.
My offering was made to the Noble Sangha which has immeasurable virtues. But since you offered food to individual monks, your offering was not as fruitful.
Devata Bhadda:
Oh, only now do I know that offering to the Noble Sangha as a whole bears greater fruit. When I go back to the human world, I will make offerings to the Noble Sangha and I will look after the Noble Sangha well. Letting go of greed, I will collect merit diligently.
God Sakka:
Devata Bhadda, who is this devata that you are speaking with? Her beauty surpasses all other devas in the Tavatimsa Heaven.
Devata Bhadda:
God Sakka, Leader of the Devas, in my previous human life she was my younger sister. We were co-wives of the same husband. She has offered food to the Noble Sangha and collected vast amounts of merit. That is why she shines so brilliantly.
God Sakka:
Oh Devata Bhadda, your younger sister has offered food to the Noble Sangha and as a result she shines so brilliantly.
One day, the Supreme Buddha was staying on the mountain named Vulture’s Peak. I asked the Blessed One to whom should one offer food to get the greatest benefits? The Supreme Buddha had an excellent knowledge of actions and their results. The Blessed One answered, “If one wants to gain the most merit and be reborn in heaven, they should make offerings to the Noble Sangha. There are four types of disciples practicing the Path and four other types who have achieved the fruits of the Path. They are virtuous, mindful, and wise.”
Devata, I know very well that this Noble Sangha has immeasurable virtues. Their lives are full of good qualities like the great ocean. They are the disciples of the best teacher among humans. These disciples illuminate the world by spreading the Dhamma.
If someone offers food and drink to the community of the Noble Sangha that gift will bear immense results. The Knower of the World, the Buddha, praised giving and encouraged people to give offerings to the Noble Sangha.
Once offerings are made to the Noble Sangha, the givers should recollect that gift and then they will have delighted hearts. They will live rejoicing in their generous nature. As a result, they will be able to be born in a wonderful heaven.
BJT 620“Này cô nàng có danh tiếng, trong lúc tỏa sáng rực rỡ nhờ vào làn da và danh tiếng, nàng sáng chói vượt trội tất cả chư Thiên ở cõi Trời Ba Mươi Ba về phương diện sắc đẹp.
BJT 621Tôi không biết rõ về việc gặp gỡ (trong quá khứ); đây là lần gặp gỡ đầu tiên. Từ tập thể nào nàng đã đi đến? Nàng hãy chuyện trò với tôi theo tên gọi (Bhaddā).”
BJT 622“Này Bhaddā, trong thời quá khứ ở cảnh giới loài người, tôi đã là Subhaddā. Tôi đã là em gái, và là người vợ có chung chồng với chị.
BJT 623Tôi đây, do sự tan rã của thân xác, đã chết từ nơi ấy, đã được giải thoát; tôi đã được sanh lên cộng trú với chư Thiên cõi Hóa Lạc.”
BJT 624“Các chúng sinh đã tạo được nhiều việc tốt đẹp (có phước báu lớn lao) đi đến với chư Thiên ấy. Này Subhaddā, nàng hãy thuật lại việc sanh ra của bản thân ở nơi chư Thiên ấy.
BJT 625Bằng cách nào, bởi lý do nào, hoặc đã được ai chỉ dạy, do sự bố thí thuộc loại thế nào, với sự thọ trì tốt lành nào mà nàng có được danh tiếng?
BJT 626Nàng đã đạt được danh tiếng như thế này. Nàng đã đạt đến trạng thái đặc biệt, lớn lao. Này nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 627“Được tịnh tín, trước đây tôi đã tự tay dâng cúng vật bố thí chỉ là tám phần đồ ăn khất thực đến hội chúng xứng đáng được cúng dường.
BJT 628Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 629Thưa vị nữ Thiên nhân có đại oai lực, tôi trình bày cho chị về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
BJT 630“Được tịnh tín, tôi đã tự tay chuẩn bị cơm nước cho các vị tỳ khưu đã được thu thúc, có sự thực hành Phạm hạnh, nhiều hơn so với nàng. Sau khi dâng cúng nhiều hơn nàng, tôi đã đi đến tập thể thấp kém.
BJT 631Sau khi dâng cúng ít hơn tôi, như thế nào mà nàng đã đạt đến trạng thái đặc biệt, lớn lao? Này nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 632“Trước đây, tôi đã gặp vị tỳ khưu đáng được tôn kính. Tôi đã thỉnh mời vị Revata ấy về bữa thọ trai với bản thân vị ấy là người thứ tám.
BJT 633Quan tâm đến lợi ích của tôi, vị Revata ấy, vì lòng thương tưởng, đã nói với tôi rằng: ‘Hãy dâng cúng ở Hội Chúng;’ tôi đã làm theo lời nói của vị ấy.
BJT 634Việc cúng dường ấy được dâng đến Hội Chúng (sẽ) được thiết lập ở vô lượng; việc bố thí ấy (nếu) được dâng cúng ở các cá nhân thì (sẽ) không có quả báo lớn lao cho chị.”
BJT 635“Ngay giờ đây, tôi biết rằng vật được dâng cúng ở Hội Chúng có quả báo lớn lao. Sau khi đi đến bản thể loài người, tôi đây, với sự ân cần, với sự bỏn xẻn đã được xa lìa, tôi sẽ dâng cúng các vật thí ở Hội Chúng lần này đến lần khác, không bị xao lãng.”
BJT 636“Này Bhaddā, Thiên nhân ấy là ai mà trò chuyện với nàng, và sáng chói vượt trội tất cả chư Thiên ở cõi Trời Ba Mươi Ba về phương diện sắc đẹp?”
BJT 637“Thưa vị Chúa của chư Thiên, trong thời quá khứ khi là con người ở cảnh giới loài người, nàng đã là người vợ có chung chồng với thiếp và còn là người em gái của thiếp. Sau khi dâng cúng các vật thí ở Hội Chúng, nàng chói sáng với phước báu đã tạo.”
BJT 638“Này Bhaddā, người em gái trong thời quá khứ chói sáng hơn nàng bởi lý do nàng ấy đã tạo lập sự cúng dường ở Hội Chúng vô lượng.
BJT 639Bởi vì, ở núi Gijjhakūṭa, ta đã hỏi đức Phật về quả thành tựu của sự san sẻ, về vật được dâng cúng ở nơi nào thì có quả báo lớn lao.
BJT 640Đối với những con người đang hiến cúng, đối với các chúng sinh mong mỏi phước báu đang thực hiện phước thiện có liên quan đến việc tái sanh, vật được dâng cúng ở nơi nào thì có quả báo lớn lao.
BJT 641Đức Phật, biết về quả báo của nghiệp ở từng trường hợp, đã giải thích điều ấy cho ta về quả thành tựu của sự san sẻ, về vật được dâng cúng ở nơi nào thì có quả báo lớn lao.
BJT 642Bốn hạng đã thực hành (bốn Đạo) và bốn hạng đã trụ ở Quả vị (bốn Quả), Hội Chúng ấy có bản thể chính trực, có Giới—Định—Tuệ.
BJT 643Đối với những con người đang hiến cúng, đối với các chúng sinh mong mỏi phước báu đang thực hiện phước thiện có liên quan đến việc tái sanh, vật được dâng cúng ở Hội Chúng thì có quả báo lớn lao.
BJT 644Bởi vì Hội Chúng ấy là bao la, đã đi đến sự vĩ đại. Hội Chúng ấy không thể đo lường, tựa như biển cả, đại dương. Chính những vị này là hạng nhất, là các đệ tử của bậc Anh Hùng trong số các nam nhân, là những đấng quang đăng tuyên thuyết Giáo Pháp.
BJT 645Những người nào dâng cúng vật thí xác định dành cho Hội Chúng, sự bố thí của những người ấy là đã khéo được dâng cúng, khéo được hiến dâng, khéo được hiến cúng. Sự cúng dường ấy, đã đi đến Hội Chúng, đã được tạo lập, có quả báo lớn lao, đã được các đấng Hiểu Biết Thế Gian khen ngợi.
BJT 646Những người nào đi lang thang ở thế gian với niềm vui đã được sanh khởi trong khi nhớ lại sự hiến cúng như thế ấy, (những người ấy) sau khi loại bỏ bợn nhơ của sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, không bị quở trách, và đi đến địa vị cõi Trời.”
Thiên Cung Tỏa Sáng Rực Rỡ.
“Daddallamānā vaṇṇena,
yasasā ca yasassinī;
Sabbe deve tāvatiṁse,
vaṇṇena atirocasi.
Dassanaṁ nābhijānāmi,
idaṁ paṭhamadassanaṁ;
Kasmā kāyā nu āgamma,
nāmena bhāsase maman”ti.
“Ahaṁ bhadde subhaddāsiṁ,
pubbe mānusake bhave;
Sahabhariyā ca te āsiṁ,
bhaginī ca kaniṭṭhikā.
Sā ahaṁ kāyassa bhedā,
vippamuttā tato cutā;
Nimmānaratīnaṁ devānaṁ,
upapannā sahabyatan”ti.
“Pahūtakatakalyāṇā,
te deve yanti pāṇino;
Yesaṁ tvaṁ kittayissasi,
subhadde jātimattano.
Atha tvaṁ kena vaṇṇena,
kena vā anusāsitā;
Kīdiseneva dānena,
subbatena yasassinī.
Yasaṁ etādisaṁ pattā,
visesaṁ vipulamajjhagā;
Devate pucchitācikkha,
kissa kammassidaṁ phalan”ti.
“Aṭṭheva piṇḍapātāni,
yaṁ dānaṁ adadaṁ pure;
Dakkhiṇeyyassa saṅghassa,
pasannā sehi pāṇibhi.
Tena metādiso vaṇṇo,
…pe…
vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
“Ahaṁ tayā bahutare bhikkhū,
Saññate brahmacārayo;
Tappesiṁ annapānena,
Pasannā sehi pāṇibhi.
Tayā bahutaraṁ datvā,
hīnakāyūpagā ahaṁ;
Kathaṁ tvaṁ appataraṁ datvā,
visesaṁ vipulamajjhagā;
Devate pucchitācikkha,
kissa kammassidaṁ phalan”ti.
“Manobhāvanīyo bhikkhu,
sandiṭṭho me pure ahu;
Tāhaṁ bhattena nimantesiṁ,
revataṁ attanaṭṭhamaṁ.
So me atthapurekkhāro,
anukampāya revato;
Saṅghe dehīti maṁvoca,
tassāhaṁ vacanaṁ kariṁ.
Sā dakkhiṇā saṅghagatā,
appameyye patiṭṭhitā;
Puggalesu tayā dinnaṁ,
na taṁ tava mahapphalan”ti.
“Idānevāhaṁ jānāmi,
saṅghe dinnaṁ mahapphalaṁ;
Sāhaṁ gantvā manussattaṁ,
vadaññū vītamaccharā;
Saṅghe dānāni dassāmi,
appamattā punappunan”ti.
“Kā esā devatā bhadde,
tayā mantayate saha;
Sabbe deve tāvatiṁse,
vaṇṇena atirocatī”ti.
“Manussabhūtā devinda,
pubbe mānusake bhave;
Sahabhariyā ca me āsi,
bhaginī ca kaniṭṭhikā;
Saṅghe dānāni datvāna,
katapuññā virocatī”ti.
“Dhammena pubbe bhaginī,
tayā bhadde virocati;
Yaṁ saṅghamhi appameyye,
patiṭṭhāpesi dakkhiṇaṁ”.
“Pucchito hi mayā buddho,
gijjhakūṭamhi pabbate;
Vipākaṁ saṁvibhāgassa,
yattha dinnaṁ mahapphalaṁ.
Yajamānānaṁ manussānaṁ,
puññapekkhāna pāṇinaṁ;
Karotaṁ opadhikaṁ puññaṁ,
yattha dinnaṁ mahapphalaṁ.
Taṁ me buddho viyākāsi,
jānaṁ kammaphalaṁ sakaṁ;
Vipākaṁ saṁvibhāgassa,
yattha dinnaṁ mahapphalaṁ.
Cattāro ca paṭipannā,
cattāro ca phale ṭhitā;
Esa saṅgho ujubhūto,
paññāsīlasamāhito.
Yajamānānaṁ manussānaṁ,
puññapekkhāna pāṇinaṁ;
Karotaṁ opadhikaṁ puññaṁ,
saṅghe dinnaṁ mahapphalaṁ.
Eso hi saṅgho vipulo mahaggato,
Esappameyyo udadhīva sāgaro;
Ete hi seṭṭhā naravīrasāvakā,
Pabhaṅkarā dhammamudīrayanti.
Tesaṁ sudinnaṁ suhutaṁ suyiṭṭhaṁ,
Ye saṅghamuddissa dadanti dānaṁ;
Sā dakkhiṇā saṅghagatā patiṭṭhitā,
Mahapphalā lokavidūna vaṇṇitā.
Etādisaṁ yaññamanussarantā,
Ye vedajātā vicaranti loke;
Vineyya maccheramalaṁ samūlaṁ,
Aninditā saggamupenti ṭhānan”ti.
Daddallavimānaṁ chaṭṭhaṁ.