BJT 136“Những con ngựa của nàng đã được thắng vào, đã được trang hoàng tuyệt vời, có khuôn mặt hướng xuống dưới, di chuyển ở không trung, có sức mạnh, có tốc lực, và năm trăm cỗ xe đã được nàng hóa hiện ra. Những con ngựa, được đốc thúc bởi những người đánh xe, theo sau nàng.
BJT 137Nàng, đã được điểm trang, đứng ở chiếc xe cao quý, đang chói sáng như vì sao, đang rực cháy như ngọn lửa. Hỡi cô nàng có thân hình cao quý, có dáng vóc tuyệt vời, ta hỏi nàng, từ tập thể nào nàng đã đi đến với đấng Cao Quý Nổi Bật?”
BJT 138“Người ta đã nói loại chư Thiên vui thích trong việc biến hóa thế này thế nọ là hạng cao nhất trong số chư Thiên đã đạt được tột đỉnh về dục lạc. Từ tập thể ấy, là tiên nữ có được dáng vóc theo như ý muốn, tôi đã đi đến nơi đây để lễ bái đấng Cao Quý Nổi Bật.”
BJT 139“Trước đây, nàng đã hành thiện hạnh gì ở nơi này? Do điều gì nàng có danh tiếng vô lượng, được nuôi dưỡng trong hạnh phúc, và thần thông của nàng là cao quý nổi bật, có sự di chuyển ở không trung, và màu da của nàng chói sáng mười phương?
BJT 140Nàng được chư Thiên vây quanh và tôn trọng. Hỡi nàng tiên, từ nơi đâu nàng đã chết đi, rồi đã đi đến chốn an vui? Hay là nàng đã thực hành theo lời chỉ dạy của vị nào? Nếu nàng đã là đệ tử của đức Phật, xin nàng hãy nói rõ cho ta.”
BJT 141“Ở thành phố cao quý khéo được xây dựng nơi thung lũng, tôi đã là người thị tỳ của vị vua cao quý có sự vinh quang. Tôi đã khéo được học tập đến tột đỉnh về múa, về hát. Ở Rājagaha người ta đã biết đến tôi là Sirimā.
BJT 142Và đức Phật, vị chúa của các ẩn sĩ, bậc Hướng Đạo đã thuyết giảng cho tôi về Tập Đế, về Khổ Đế, về tính chất vô thường, về sự không tạo tác, về sự Diệt Tận của Khổ, về tính chất trường cửu, và về Đạo Lộ không cong quẹo, thẳng tắp, tốt lành này.
BJT 143Sau khi lắng nghe về Đạo Lộ Bất Tử, về sự không tạo tác, về Giáo Pháp cao quý nổi bật của đức Như Lai, tôi đã tuyệt đối khéo léo thu thúc trong các giới, được vững vàng trong Giáo Pháp đã được thuyết giảng bởi đức Phật cao quý của loài người.
BJT 144Sau khi tôi biết được vị thế Vô Nhiễm, không tạo tác, đã được thuyết giảng bởi đức Như Lai, đấng Cao Quý tối thượng, ngay vào thời điểm ấy tôi đã chạm đến tầng định của thiền chỉ tịnh. Chính tôi đây đã có được bản thể vững bền tối thượng.
BJT 145Sau khi đạt được sự Bất Tử cao quý đặc biệt, sau khi đã xác định về sự lãnh hội, tôi đã chắc chắn, không còn hoài nghi, được nhiều người tôn vinh. Tôi thọ hưởng sự vui thích khoái lạc không phải là ít.
BJT 146Như vậy, tôi là vị Thiên nhân thấy được Bất Tử, là nữ Thinh Văn của đức Như Lai, đấng Cao Quý Nổi Bật. Tôi đã thấy được Pháp, đã được thiết lập ở quả vị thứ nhất, là vị Nhập Lưu, và hơn nữa không còn khổ cảnh đối với tôi.
BJT 147Với sự tôn kính đối với đấng Pháp Vương vinh quang, tôi đây đã đi đến để đảnh lễ đấng Cao Quý Tối Thượng và để lễ bái các vị tỳ khưu, những vị vui thích thiện pháp, tạo nên niềm tin, tập hợp tốt lành của các Sa-môn.
BJT 148Sau khi nhìn thấy bậc Hiền Trí, đức Như Lai, đấng Điều Ngự Trượng Phu cao quý, vị cắt đứt tham ái, bậc vui thích thiện pháp, đấng Hướng Đạo, tôi được hài lòng, có tâm ý hoan hỷ. Tôi đảnh lễ bậc có lòng thương tưởng đến điều lợi ích tối thượng (cho tất cả chúng sanh).”
Thiên Cung của Sirimā.
“Yuttā ca te paramaalaṅkatā hayā,
Adhomukhā aghasigamā balī javā;
Abhinimmitā pañcarathāsatā ca te,
Anventi taṁ sārathicoditā hayā.
Sā tiṭṭhasi rathavare alaṅkatā,
Obhāsayaṁ jalamiva joti pāvako;
Pucchāmi taṁ varatanu anomadassane,
Kasmā nu kāyā anadhivaraṁ upāgami”.
“Kāmaggapattānaṁ yamāhunuttaraṁ,
Nimmāya nimmāya ramanti devatā;
Tasmā kāyā accharā kāmavaṇṇinī,
Idhāgatā anadhivaraṁ namassituṁ”.
“Kiṁ tvaṁ pure sucaritamācarīdha,
Kenacchasi tvaṁ amitayasā sukhedhitā;
Iddhī ca te anadhivarā vihaṅgamā,
Vaṇṇo ca te dasa disā virocati.
Devehi tvaṁ parivutā sakkatā casi,
Kuto cutā sugatigatāsi devate;
Kassa vā tvaṁ vacanakarānusāsaniṁ,
Ācikkha me tvaṁ yadi buddhasāvikā”ti.
“Nagantare nagaravare sumāpite,
Paricārikā rājavarassa sirimato;
Nacce gīte paramasusikkhitā ahuṁ,
Sirimāti maṁ rājagahe avediṁsu.
Buddho ca me isinisabho vināyako,
Adesayī samudayadukkhaniccataṁ;
Asaṅkhataṁ dukkhanirodhasassataṁ,
Maggañcimaṁ akuṭilamañjasaṁ sivaṁ.
Sutvānahaṁ amatapadaṁ asaṅkhataṁ,
Tathāgatassanadhivarassa sāsanaṁ;
Sīlesvahaṁ paramasusaṁvutā ahuṁ,
Dhamme ṭhitā naravarabuddhadesite.
Ñatvānahaṁ virajapadaṁ asaṅkhataṁ,
Tathāgatenanadhivarena desitaṁ;
Tatthevahaṁ samathasamādhimāphusiṁ,
Sāyeva me paramaniyāmatā ahu.
Laddhānahaṁ amatavaraṁ visesanaṁ,
Ekaṁsikā abhisamaye visesiya;
Asaṁsayā bahujanapūjitā ahaṁ,
Khiḍḍāratiṁ paccanubhomanappakaṁ.
Evaṁ ahaṁ amatadasamhi devatā,
Tathāgatassanadhivarassa sāvikā;
Dhammaddasā paṭhamaphale patiṭṭhitā,
Sotāpannā na ca pana matthi duggati.
Sā vandituṁ anadhivaraṁ upāgamiṁ,
Pāsādike kusalarate ca bhikkhavo;
Namassituṁ samaṇasamāgamaṁ sivaṁ,
Sagāravā sirimato dhammarājino.
Disvā muniṁ muditamanamhi pīṇitā,
Tathāgataṁ naravaradammasārathiṁ;
Taṇhacchidaṁ kusalarataṁ vināyakaṁ,
Vandāmahaṁ paramahitānukampakan”ti.
Sirimāvimānaṁ soḷasamaṁ.
Vangisa Bhante:
Devata, your chariot is very beautiful. The divine horses that pull it are very powerful and fast, and they are decorated with various ornaments. These horses travel down through the sky. Just as horses obey their driver, these horses take you to wherever your mind wishes to go. You have received five hundred chariots. Is this not the result of a powerful act of merit?
While you sit in the chariot decorated with ornaments, you shine like a fire which provides bright light. Devata, you are extremely beautiful. From which heavenly world did you come here to visit the Supreme Buddha?
Devata:
Bhante, the heavenly world that I came from is a great place even amongst the other heavenly worlds. There the gods create whatever divine pleasures they wish for and delight in their creation. I am a goddess from that heaven and I too have created various wonderful things according to my wish. I have come from that heaven to pay homage to the Supreme Buddha.
Vangisa Bhante:
Devata, you possess psychic powers and your body illuminates all the directions. Surrounded and respected by many gods, you are traveling through the sky. Tell me where you lived before you were born as a goddess. Whose teaching did you follow? Are you a follower of the Supreme Buddha? What kind of meritorious actions did you do in the past?
Devata:
In the human world there once was a beautiful city called Rajagaha surrounded by five mountains. I was a queen of the famous king Bimbisara. I was very talented in dancing and singing. Everyone knew me as Sirima.
The Supreme Buddha is a great teacher. He is very skilled at training gods and humans. My great teacher, the Supreme Buddha, taught me the Four Noble Truths. He taught that suffering and the cause of suffering are impermanent. He taught me the end of suffering, Nibbana, which is unconditioned and unchanging. And he taught me the Noble Eightfold Path which is a straight and excellent way leading to the end of suffering.
Having learned about the bliss of Nibbana from the unsurpassed teacher, the Supreme Buddha, I had great confidence in that teaching. I kept the precepts well and led a very restrained life.
I recognized the true way to Nibbana and understood clearly the teachings of the Supreme Buddha. I developed concentration through serene meditation. That concentration became a key factor of my practice.
I realized the Four Noble Truths. I am free from doubt in the teachings. Many gods honor me and I enjoy many wonderful things here.
I am a follower of the wisest teacher, the Supreme Buddha, and I am headed to Nibbana. Through the realization of the Four Noble Truths, I have reached the first stage of enlightenment, the fruit of stream entry. I have escaped from all bad destinations.
I came to worship my great teacher, the Supreme Buddha. The sight of virtuous monks is also pleasing to me and I worship them happily.
The most supreme, matchless trainer of beings, the Supreme Buddha, has cut off all cravings and delights in Nibbana. The Blessed One is compassionate to all beings. Even just seeing the Buddha is delightful. My happiness is beyond words. I pay homage to my great teacher, the Supreme Buddha.
BJT 136“Những con ngựa của nàng đã được thắng vào, đã được trang hoàng tuyệt vời, có khuôn mặt hướng xuống dưới, di chuyển ở không trung, có sức mạnh, có tốc lực, và năm trăm cỗ xe đã được nàng hóa hiện ra. Những con ngựa, được đốc thúc bởi những người đánh xe, theo sau nàng.
BJT 137Nàng, đã được điểm trang, đứng ở chiếc xe cao quý, đang chói sáng như vì sao, đang rực cháy như ngọn lửa. Hỡi cô nàng có thân hình cao quý, có dáng vóc tuyệt vời, ta hỏi nàng, từ tập thể nào nàng đã đi đến với đấng Cao Quý Nổi Bật?”
BJT 138“Người ta đã nói loại chư Thiên vui thích trong việc biến hóa thế này thế nọ là hạng cao nhất trong số chư Thiên đã đạt được tột đỉnh về dục lạc. Từ tập thể ấy, là tiên nữ có được dáng vóc theo như ý muốn, tôi đã đi đến nơi đây để lễ bái đấng Cao Quý Nổi Bật.”
BJT 139“Trước đây, nàng đã hành thiện hạnh gì ở nơi này? Do điều gì nàng có danh tiếng vô lượng, được nuôi dưỡng trong hạnh phúc, và thần thông của nàng là cao quý nổi bật, có sự di chuyển ở không trung, và màu da của nàng chói sáng mười phương?
BJT 140Nàng được chư Thiên vây quanh và tôn trọng. Hỡi nàng tiên, từ nơi đâu nàng đã chết đi, rồi đã đi đến chốn an vui? Hay là nàng đã thực hành theo lời chỉ dạy của vị nào? Nếu nàng đã là đệ tử của đức Phật, xin nàng hãy nói rõ cho ta.”
BJT 141“Ở thành phố cao quý khéo được xây dựng nơi thung lũng, tôi đã là người thị tỳ của vị vua cao quý có sự vinh quang. Tôi đã khéo được học tập đến tột đỉnh về múa, về hát. Ở Rājagaha người ta đã biết đến tôi là Sirimā.
BJT 142Và đức Phật, vị chúa của các ẩn sĩ, bậc Hướng Đạo đã thuyết giảng cho tôi về Tập Đế, về Khổ Đế, về tính chất vô thường, về sự không tạo tác, về sự Diệt Tận của Khổ, về tính chất trường cửu, và về Đạo Lộ không cong quẹo, thẳng tắp, tốt lành này.
BJT 143Sau khi lắng nghe về Đạo Lộ Bất Tử, về sự không tạo tác, về Giáo Pháp cao quý nổi bật của đức Như Lai, tôi đã tuyệt đối khéo léo thu thúc trong các giới, được vững vàng trong Giáo Pháp đã được thuyết giảng bởi đức Phật cao quý của loài người.
BJT 144Sau khi tôi biết được vị thế Vô Nhiễm, không tạo tác, đã được thuyết giảng bởi đức Như Lai, đấng Cao Quý tối thượng, ngay vào thời điểm ấy tôi đã chạm đến tầng định của thiền chỉ tịnh. Chính tôi đây đã có được bản thể vững bền tối thượng.
BJT 145Sau khi đạt được sự Bất Tử cao quý đặc biệt, sau khi đã xác định về sự lãnh hội, tôi đã chắc chắn, không còn hoài nghi, được nhiều người tôn vinh. Tôi thọ hưởng sự vui thích khoái lạc không phải là ít.
BJT 146Như vậy, tôi là vị Thiên nhân thấy được Bất Tử, là nữ Thinh Văn của đức Như Lai, đấng Cao Quý Nổi Bật. Tôi đã thấy được Pháp, đã được thiết lập ở quả vị thứ nhất, là vị Nhập Lưu, và hơn nữa không còn khổ cảnh đối với tôi.
BJT 147Với sự tôn kính đối với đấng Pháp Vương vinh quang, tôi đây đã đi đến để đảnh lễ đấng Cao Quý Tối Thượng và để lễ bái các vị tỳ khưu, những vị vui thích thiện pháp, tạo nên niềm tin, tập hợp tốt lành của các Sa-môn.
BJT 148Sau khi nhìn thấy bậc Hiền Trí, đức Như Lai, đấng Điều Ngự Trượng Phu cao quý, vị cắt đứt tham ái, bậc vui thích thiện pháp, đấng Hướng Đạo, tôi được hài lòng, có tâm ý hoan hỷ. Tôi đảnh lễ bậc có lòng thương tưởng đến điều lợi ích tối thượng (cho tất cả chúng sanh).”
Thiên Cung của Sirimā.
“Yuttā ca te paramaalaṅkatā hayā,
Adhomukhā aghasigamā balī javā;
Abhinimmitā pañcarathāsatā ca te,
Anventi taṁ sārathicoditā hayā.
Sā tiṭṭhasi rathavare alaṅkatā,
Obhāsayaṁ jalamiva joti pāvako;
Pucchāmi taṁ varatanu anomadassane,
Kasmā nu kāyā anadhivaraṁ upāgami”.
“Kāmaggapattānaṁ yamāhunuttaraṁ,
Nimmāya nimmāya ramanti devatā;
Tasmā kāyā accharā kāmavaṇṇinī,
Idhāgatā anadhivaraṁ namassituṁ”.
“Kiṁ tvaṁ pure sucaritamācarīdha,
Kenacchasi tvaṁ amitayasā sukhedhitā;
Iddhī ca te anadhivarā vihaṅgamā,
Vaṇṇo ca te dasa disā virocati.
Devehi tvaṁ parivutā sakkatā casi,
Kuto cutā sugatigatāsi devate;
Kassa vā tvaṁ vacanakarānusāsaniṁ,
Ācikkha me tvaṁ yadi buddhasāvikā”ti.
“Nagantare nagaravare sumāpite,
Paricārikā rājavarassa sirimato;
Nacce gīte paramasusikkhitā ahuṁ,
Sirimāti maṁ rājagahe avediṁsu.
Buddho ca me isinisabho vināyako,
Adesayī samudayadukkhaniccataṁ;
Asaṅkhataṁ dukkhanirodhasassataṁ,
Maggañcimaṁ akuṭilamañjasaṁ sivaṁ.
Sutvānahaṁ amatapadaṁ asaṅkhataṁ,
Tathāgatassanadhivarassa sāsanaṁ;
Sīlesvahaṁ paramasusaṁvutā ahuṁ,
Dhamme ṭhitā naravarabuddhadesite.
Ñatvānahaṁ virajapadaṁ asaṅkhataṁ,
Tathāgatenanadhivarena desitaṁ;
Tatthevahaṁ samathasamādhimāphusiṁ,
Sāyeva me paramaniyāmatā ahu.
Laddhānahaṁ amatavaraṁ visesanaṁ,
Ekaṁsikā abhisamaye visesiya;
Asaṁsayā bahujanapūjitā ahaṁ,
Khiḍḍāratiṁ paccanubhomanappakaṁ.
Evaṁ ahaṁ amatadasamhi devatā,
Tathāgatassanadhivarassa sāvikā;
Dhammaddasā paṭhamaphale patiṭṭhitā,
Sotāpannā na ca pana matthi duggati.
Sā vandituṁ anadhivaraṁ upāgamiṁ,
Pāsādike kusalarate ca bhikkhavo;
Namassituṁ samaṇasamāgamaṁ sivaṁ,
Sagāravā sirimato dhammarājino.
Disvā muniṁ muditamanamhi pīṇitā,
Tathāgataṁ naravaradammasārathiṁ;
Taṇhacchidaṁ kusalarataṁ vināyakaṁ,
Vandāmahaṁ paramahitānukampakan”ti.
Sirimāvimānaṁ soḷasamaṁ.