BJT 43“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, sau khi bước lên chiếc thuyền có mái bằng vàng. Nàng lội xuống hồ nước hái hoa sen bằng bàn tay.
BJT 44Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 45Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 46Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 47“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, trong kiếp sống trước đây ở thế giới loài người, sau khi nhìn thấy các vị tỳ khưu bị thiếu nước, bị mệt nhọc, tôi đã đứng lên và đã dâng nước để uống.
BJT 48Quả vậy, người nào đứng lên và dâng nước để uống đến những người bị mệt nhọc, bị khát nước, người ấy có được những dòng sông có nước mát, lắm bông hoa, và nhiều sen trắng.
BJT 49Những dòng nước luôn luôn chảy xung quanh người ấy, những con sông có nước mát, được trải lót bằng cát. Có những cây xoài, cây sālā, cây tilakā, cây mận đỏ, cây bã đậu, và cây loa kèn nở rộ hoa.
BJT 50Thiên cung hạng nhất ấy, có vẻ đẹp được ban cho với những vùng đất (như thế ấy), đang chiếu sáng rực rỡ. Ở đây, quả thành tựu này là của nghiệp ấy. Những người có phước báu đã làm đạt được như thế này.
BJT 51Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 52Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Chiếc Thuyền thứ nhất.
“Suvaṇṇacchadanaṁ nāvaṁ,
Nāri āruyha tiṭṭhasi;
Ogāhasi pokkharaṇiṁ,
Padmaṁ chindasi pāṇinā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
Sā devatā attamanā,
moggallānena pucchitā;
Pañhaṁ puṭṭhā viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahaṁ manussesu manussabhūtā,
Purimāya jātiyā manussaloke;
Disvāna bhikkhū tasite kilante,
Uṭṭhāya pātuṁ udakaṁ adāsiṁ.
Yo ve kilantāna pipāsitānaṁ,
Uṭṭhāya pātuṁ udakaṁ dadāti;
Sītodakā tassa bhavanti najjo,
Pahūtamalyā bahupuṇḍarīkā.
Taṁ āpagā anupariyanti sabbadā,
Sītodakā vālukasanthatā nadī;
Ambā ca sālā tilakā ca jambuyo,
Uddālakā pāṭaliyo ca phullā.
Taṁ bhūmibhāgehi upetarūpaṁ,
Vimānaseṭṭhaṁ bhusa sobhamānaṁ;
Tassīdha kammassa ayaṁ vipāko,
Etādisaṁ puññakatā labhanti.
Tena metādiso vaṇṇo,
tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā,
ye keci manaso piyā.
Akkhāmi te bhikkhu mahānubhāva,
Manussabhūtā yamakāsi puññaṁ;
Tenamhi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
Paṭhamanāvāvimānaṁ chaṭṭhaṁ.
Moggallana Bhante:
Devata, your divine mansion is a ship with a roof made of gold. It floats on a pond filled with lotus flowers. You happily pick those lotus flowers with your own hands.
What kind of meritorious action did you do when you were in the human world to have gained this beauty that shines in all directions, and to have earned all these wonderful things?
Narrator:
That devata, delighted at being questioned by Arahant Moggallana, gladly explained what she had done that resulted in such great happiness.
Devata:
In my previous life I was a woman in the human world. One day, I saw several monks who were very thirsty and had fallen to the ground. I got up quickly and offered them water to drink.
Now I know if people offer water to a monk who is thirsty, cool ponds full of white lotuses will appear for them in the heavenly world. Further, their divine mansions will be surrounded with beautiful sandy beaches where streams of water flow smoothly. Mango trees, sala trees, tilakas, rose apples, cassias and trumpet flowers will be in full bloom everywhere. These beautiful mansions appear in such places. They shine brilliantly.
Bhante, that was my meritorious deed which gave me this wonderful result. Only those who do meritorious deeds deserve this happiness.
Because of this meritorious deed, I have been born as a very beautiful devata and enjoy all the wonderful things that delight my heart.
Great Bhante, that is the meritorious action I did to have such a beautiful body that shines in all directions.
BJT 43“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, sau khi bước lên chiếc thuyền có mái bằng vàng. Nàng lội xuống hồ nước hái hoa sen bằng bàn tay.
BJT 44Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 45Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 46Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 47“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, trong kiếp sống trước đây ở thế giới loài người, sau khi nhìn thấy các vị tỳ khưu bị thiếu nước, bị mệt nhọc, tôi đã đứng lên và đã dâng nước để uống.
BJT 48Quả vậy, người nào đứng lên và dâng nước để uống đến những người bị mệt nhọc, bị khát nước, người ấy có được những dòng sông có nước mát, lắm bông hoa, và nhiều sen trắng.
BJT 49Những dòng nước luôn luôn chảy xung quanh người ấy, những con sông có nước mát, được trải lót bằng cát. Có những cây xoài, cây sālā, cây tilakā, cây mận đỏ, cây bã đậu, và cây loa kèn nở rộ hoa.
BJT 50Thiên cung hạng nhất ấy, có vẻ đẹp được ban cho với những vùng đất (như thế ấy), đang chiếu sáng rực rỡ. Ở đây, quả thành tựu này là của nghiệp ấy. Những người có phước báu đã làm đạt được như thế này.
BJT 51Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 52Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Chiếc Thuyền thứ nhất.
“Suvaṇṇacchadanaṁ nāvaṁ,
Nāri āruyha tiṭṭhasi;
Ogāhasi pokkharaṇiṁ,
Padmaṁ chindasi pāṇinā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
Sā devatā attamanā,
moggallānena pucchitā;
Pañhaṁ puṭṭhā viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahaṁ manussesu manussabhūtā,
Purimāya jātiyā manussaloke;
Disvāna bhikkhū tasite kilante,
Uṭṭhāya pātuṁ udakaṁ adāsiṁ.
Yo ve kilantāna pipāsitānaṁ,
Uṭṭhāya pātuṁ udakaṁ dadāti;
Sītodakā tassa bhavanti najjo,
Pahūtamalyā bahupuṇḍarīkā.
Taṁ āpagā anupariyanti sabbadā,
Sītodakā vālukasanthatā nadī;
Ambā ca sālā tilakā ca jambuyo,
Uddālakā pāṭaliyo ca phullā.
Taṁ bhūmibhāgehi upetarūpaṁ,
Vimānaseṭṭhaṁ bhusa sobhamānaṁ;
Tassīdha kammassa ayaṁ vipāko,
Etādisaṁ puññakatā labhanti.
Tena metādiso vaṇṇo,
tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā,
ye keci manaso piyā.
Akkhāmi te bhikkhu mahānubhāva,
Manussabhūtā yamakāsi puññaṁ;
Tenamhi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
Paṭhamanāvāvimānaṁ chaṭṭhaṁ.