BJT 31“Con voi của nàng là vật cỡi cao quý, có sự trang hoàng với nhiều loại châu báu, khả ái, mạnh mẽ, có sự nhanh nhẹn, di chuyển an toàn ở không trung.
BJT 32Hỡi nàng có mắt hình lá sen, (con voi của nàng) có màu sắc tựa như hoa sen, có sự rực rỡ với màu sen hồng và sen xanh, có thân hình được rải rắc với nhụy phấn của hoa sen, có đeo tràng hoa sen bằng vàng.
BJT 33Con voi đi một cách đều đều, ổn định, êm đềm, không gây xóc ở con đường được rải đầy hoa sen, được tô điểm với những lá sen.
BJT 34Trong lúc con voi đang tiến bước, những chiếc chuông vàng (phát lên) âm thanh êm dịu. Tiếng ngân vang của chúng được nghe giống như từ năm loại nhạc cụ.
BJT 35Ở trên thân của con voi ấy, nàng với xiêm y tinh khiết, đã được trang điểm, sáng chói vượt trội đoàn tiên nữ đông đảo về phương diện sắc đẹp.
BJT 36Quả báo này của nàng là do sự bố thí, hay là do giới hạnh, hoặc của hành động chắp tay? Được hỏi, xin nàng hãy giải thích điều ấy cho ta.”
BJT 37Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 38“Sau khi nhìn thấy vị thành tựu các đức hạnh, chứng thiền, thích thú về thiền, tốt lành, tôi đã dâng chỗ ngồi được phủ lên lớp vải, được rải rắc các bông hoa.
BJT 39Được tịnh tín, tôi đã tự tay rắc lên ở xung quanh chỗ ngồi với những cánh hoa sen của một nửa bông hoa sen hồng.
BJT 40Quả báo này như vầy của tôi là do nghiệp thiện ấy. Tôi có được sự tôn vinh, có được sự kính trọng, và được sùng bái bởi chư Thiên.
BJT 41Nếu người nào tịnh tín dâng cúng chỗ ngồi đến các vị hành Phạm hạnh, thanh tịnh, đã được chân chánh giải thoát, sẽ được vui sướng như thế giống như tôi vậy.
BJT 42Chính vì điều đó, những người mong mỏi lợi ích, ao ước quả báo lớn lao thì nên dâng cúng chỗ ngồi đến những vị đang mang thân mạng cuối cùng.”
Thiên Cung Voi.
“Kuñjaro te varāroho,
Nānāratanakappano;
Ruciro thāmavā javasampanno,
Ākāsamhi samīhati.
Padumi padmapattakkhi,
padmuppalajutindharo;
Padmacuṇṇābhikiṇṇaṅgo,
soṇṇapokkharamāladhā.
Padumānusaṭaṁ maggaṁ,
padmapattavibhūsitaṁ;
Ṭhitaṁ vaggu manugghātī,
mitaṁ gacchati vāraṇo.
Tassa pakkamamānassa,
soṇṇakaṁsā ratissarā;
Tesaṁ suyyati nigghoso,
tūriye pañcaṅgike yathā.
Tassa nāgassa khandhamhi,
sucivatthā alaṅkatā;
Mahantaṁ accharāsaṅghaṁ,
vaṇṇena atirocasi.
Dānassa te idaṁ phalaṁ,
atho sīlassa vā pana;
Atho añjalikammassa,
taṁ me akkhāhi pucchitā”ti.
Sā devatā attamanā,
moggallānena pucchitā;
Pañhaṁ puṭṭhā viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Disvāna guṇasampannaṁ,
jhāyiṁ jhānarataṁ sataṁ;
Adāsiṁ pupphābhikiṇṇaṁ,
āsanaṁ dussasanthataṁ.
Upaḍḍhaṁ padmamālāhaṁ,
āsanassa samantato;
Abbhokirissaṁ pattehi,
pasannā sehi pāṇibhi.
Tassa kammakusalassa,
idaṁ me īdisaṁ phalaṁ;
Sakkāro garukāro ca,
devānaṁ apacitā ahaṁ.
Yo ve sammāvimuttānaṁ,
santānaṁ brahmacārinaṁ;
Pasanno āsanaṁ dajjā,
evaṁ nande yathā ahaṁ.
Tasmā hi attakāmena,
mahattamabhikaṅkhatā;
Āsanaṁ dātabbaṁ hoti,
sarīrantimadhārinan”ti.
Kuñjaravimānaṁ pañcamaṁ.
Moggallana Bhante:
Devata, your mansion is a divine elephant decorated with various jewels. It is pleasing and powerful. It is very fast and moves smoothly through the air.
Your eyes are as beautiful as lotus petals. The color of your elephant is like blue and red lotuses. Its whole body is covered with lotus powder and it is wearing lotus garlands made of gold.
Your elephant travels over a road that is covered in lotus flowers and leaves. The way your elephant walks is charming and pleasing. As it steps forward, golden bells, sweet in tone, are heard. The sound is like an orchestra.
As you are seated on that great elephant’s back, decorated and wearing divine clothes, your beauty is greater than all the other devas.
Is all this the fruit of your generosity, your virtuous behavior, or because you worshiped monks in the past? Please answer my questions, so that I may know.
Narrator:
That devata, delighted at being questioned by Arahant Moggallana, gladly explained what she had done that resulted in such great happiness.
Devata:
Bhante, one day I saw a monk who meditated frequently and had very noble qualities. I offered him a chair covered with cloth and lotus flowers. Using lotus garlands and flowers, I decorated the floor around the chair with my own hands.
As a result of these meritorious deeds, I have received these wonderful things. I am treated with great care and respected in this heavenly world and I am honored by the other devas.
Surely, if someone with a confident heart offers a seat to those who are free from defilements and are calm in mind, that person will experience great happiness, just as I do now.
Someone who cares about his own well-being and who wants to experience good results should offer seats to Arahants who are in their final body.
BJT 31“Con voi của nàng là vật cỡi cao quý, có sự trang hoàng với nhiều loại châu báu, khả ái, mạnh mẽ, có sự nhanh nhẹn, di chuyển an toàn ở không trung.
BJT 32Hỡi nàng có mắt hình lá sen, (con voi của nàng) có màu sắc tựa như hoa sen, có sự rực rỡ với màu sen hồng và sen xanh, có thân hình được rải rắc với nhụy phấn của hoa sen, có đeo tràng hoa sen bằng vàng.
BJT 33Con voi đi một cách đều đều, ổn định, êm đềm, không gây xóc ở con đường được rải đầy hoa sen, được tô điểm với những lá sen.
BJT 34Trong lúc con voi đang tiến bước, những chiếc chuông vàng (phát lên) âm thanh êm dịu. Tiếng ngân vang của chúng được nghe giống như từ năm loại nhạc cụ.
BJT 35Ở trên thân của con voi ấy, nàng với xiêm y tinh khiết, đã được trang điểm, sáng chói vượt trội đoàn tiên nữ đông đảo về phương diện sắc đẹp.
BJT 36Quả báo này của nàng là do sự bố thí, hay là do giới hạnh, hoặc của hành động chắp tay? Được hỏi, xin nàng hãy giải thích điều ấy cho ta.”
BJT 37Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 38“Sau khi nhìn thấy vị thành tựu các đức hạnh, chứng thiền, thích thú về thiền, tốt lành, tôi đã dâng chỗ ngồi được phủ lên lớp vải, được rải rắc các bông hoa.
BJT 39Được tịnh tín, tôi đã tự tay rắc lên ở xung quanh chỗ ngồi với những cánh hoa sen của một nửa bông hoa sen hồng.
BJT 40Quả báo này như vầy của tôi là do nghiệp thiện ấy. Tôi có được sự tôn vinh, có được sự kính trọng, và được sùng bái bởi chư Thiên.
BJT 41Nếu người nào tịnh tín dâng cúng chỗ ngồi đến các vị hành Phạm hạnh, thanh tịnh, đã được chân chánh giải thoát, sẽ được vui sướng như thế giống như tôi vậy.
BJT 42Chính vì điều đó, những người mong mỏi lợi ích, ao ước quả báo lớn lao thì nên dâng cúng chỗ ngồi đến những vị đang mang thân mạng cuối cùng.”
Thiên Cung Voi.
“Kuñjaro te varāroho,
Nānāratanakappano;
Ruciro thāmavā javasampanno,
Ākāsamhi samīhati.
Padumi padmapattakkhi,
padmuppalajutindharo;
Padmacuṇṇābhikiṇṇaṅgo,
soṇṇapokkharamāladhā.
Padumānusaṭaṁ maggaṁ,
padmapattavibhūsitaṁ;
Ṭhitaṁ vaggu manugghātī,
mitaṁ gacchati vāraṇo.
Tassa pakkamamānassa,
soṇṇakaṁsā ratissarā;
Tesaṁ suyyati nigghoso,
tūriye pañcaṅgike yathā.
Tassa nāgassa khandhamhi,
sucivatthā alaṅkatā;
Mahantaṁ accharāsaṅghaṁ,
vaṇṇena atirocasi.
Dānassa te idaṁ phalaṁ,
atho sīlassa vā pana;
Atho añjalikammassa,
taṁ me akkhāhi pucchitā”ti.
Sā devatā attamanā,
moggallānena pucchitā;
Pañhaṁ puṭṭhā viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Disvāna guṇasampannaṁ,
jhāyiṁ jhānarataṁ sataṁ;
Adāsiṁ pupphābhikiṇṇaṁ,
āsanaṁ dussasanthataṁ.
Upaḍḍhaṁ padmamālāhaṁ,
āsanassa samantato;
Abbhokirissaṁ pattehi,
pasannā sehi pāṇibhi.
Tassa kammakusalassa,
idaṁ me īdisaṁ phalaṁ;
Sakkāro garukāro ca,
devānaṁ apacitā ahaṁ.
Yo ve sammāvimuttānaṁ,
santānaṁ brahmacārinaṁ;
Pasanno āsanaṁ dajjā,
evaṁ nande yathā ahaṁ.
Tasmā hi attakāmena,
mahattamabhikaṅkhatā;
Āsanaṁ dātabbaṁ hoti,
sarīrantimadhārinan”ti.
Kuñjaravimānaṁ pañcamaṁ.