BJT 183“Khi ngài đang đi khất thực, trong khi đang đứng với trạng thái im lặng, có người đàn bà nghèo khổ, khốn cùng, sống nương tựa ở nhà của người khác.
BJT 184Được tịnh tín, nàng đã tự tay dâng đến ngài bọt nước cơm. Nàng ấy, sau khi từ bỏ thân xác loài người, đã đi đến phương trời nào?”
BJT 185“Khi tôi đang đi khất thực, trong khi đang đứng với trạng thái im lặng, có người đàn bà nghèo khổ, khốn cùng, sống nương tựa ở nhà của người khác.
BJT 186Được tịnh tín, nàng đã tự tay dâng đến tôi bọt nước cơm. Nàng ấy, sau khi từ bỏ thân xác loài người, đã chết từ nơi đây, đã được giải thoát.
BJT 187Có hạng chư Thiên tên gọi Hóa Lạc có đại thần lực, người đàn bà ấy, người nữ bố thí bọt nước cơm, được an lạc, vui sướng ở nơi ấy.”
BJT 188“Ôi, sự bố thí của người nữ khốn cùng đã khéo được thiết lập ở ngài Kassapa. Sự cúng dường với vật thí nhận được từ người khác quả nhiên đã được thành tựu.
BJT 189Người phụ nữ nào xinh đẹp ở mọi phần thân thể, được xem là quý giá đối với chồng, có thể được lập làm chánh hậu của đức vua Chuyển Luân, (vẫn) không giá trị bằng một phần mười sáu của sự bố thí bọt nước cơm ấy.
BJT 190Một trăm tiền vàng, một trăm con ngựa, một trăm xe lừa kéo, một trăm ngàn thiếu nữ có các bông hoa tai bằng ngọc ma-ni đã được trau chuốt, (vẫn) không giá trị bằng một phần mười sáu của sự bố thí bọt nước cơm ấy.
BJT 191Một trăm con long tượng thuộc vùng núi Hi-mã-lạp, có các ngà như càng xe, vạm vỡ, là loài voi mātaṅga có áo giáp bằng vàng, có yên cương bằng vàng, (vẫn) không giá trị bằng một phần mười sáu của sự bố thí bọt nước cơm ấy.
BJT 192Ở đây, người nào có thể hành xử vương quyền đối với cả bốn châu lục cũng không giá trị bằng một phần mười sáu của sự bố thí bọt nước cơm ấy.”
Thiên Cung của Người Nữ Bố Thí Bọt Nước Cơm.
“Piṇḍāya te carantassa,
tuṇhībhūtassa tiṭṭhato;
Daliddā kapaṇā nārī,
parāgāraṁ apassitā.
Yā te adāsi ācāmaṁ,
pasannā sehi pāṇibhi;
Sā hitvā mānusaṁ dehaṁ,
kaṁ nu sā disataṁ gatā”ti.
“Piṇḍāya me carantassa,
tuṇhībhūtassa tiṭṭhato;
Daliddā kapaṇā nārī,
parāgāraṁ apassitā.
Yā me adāsi ācāmaṁ,
pasannā sehi pāṇibhi;
Sā hitvā mānusaṁ dehaṁ,
vippamuttā ito cutā.
Nimmānaratino nāma,
santi devā mahiddhikā;
Tattha sā sukhitā nārī,
modatācāmadāyikā”ti.
“Aho dānaṁ varākiyā,
kassape suppatiṭṭhitaṁ;
Parābhatena dānena,
ijjhittha vata dakkhiṇā.
Yā mahesittaṁ kāreyya,
cakkavattissa rājino;
Nārī sabbaṅgakalyāṇī,
bhattu cānomadassikā;
Etassācāmadānassa,
kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
Sataṁ nikkhā sataṁ assā,
sataṁ assatarīrathā;
Sataṁ kaññāsahassāni,
āmuttamaṇikuṇḍalā;
Etassācāmadānassa,
kalaṁ nāgghanti soḷasiṁ.
Sataṁ hemavatā nāgā,
īsādantā urūḷhavā;
Suvaṇṇakacchā mātaṅgā,
hemakappanavāsasā;
Etassācāmadānassa,
kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
Catunnamapi dīpānaṁ,
issaraṁ yodha kāraye;
Etassācāmadānassa,
kalaṁ nāgghati soḷasin”ti.
Ācāmadāyikāvimānaṁ tatiyaṁ.
God Sakka:
Kassapa Bhante, do you remember one day while you were on your almsround, you stood silently in front of a certain house? In that house there was a very poor lady of a low caste who used to go to other people’s houses to beg for food.
She was very pleased when she saw you and offered some rice-crust with her own hands. Now that she has died, which world was she reborn in?
Kassapa Bhante:
God Sakka, yes I do remember that day when I was on my almsround and I stood silently in front of a certain house. In that house there was a very poor lady of a low caste who used to go to other people’s houses to beg for food.
She was very pleased when she saw me and she offered some rice-crust with her own hands. Now she has died and escaped from that painful human life. She has been reborn in Nimmanarati Heaven where all the mighty devas possess psychic powers. That lady who offered some rice-crust now enjoys heavenly pleasures there.
God Sakka:
Amazing! It is wonderful! That poor lady offered rice-crust to Arahant Kassapa Bhante which she had begged from others, and that offering generated a wonderful result.
If one becomes the beautiful queen of a wheel-turning monarch, the happiness she experiences is not even worth a sixteenth part of the result of this rice-crust gift.
A hundred gold coins, a hundred horses, a hundred chariots pulled by mules, a hundred thousand maidens decorated in beautiful ornaments—happiness gained from these items is not worth a sixteenth part of the result of this rice-crust gift.
Even the happiness gained from a hundred Himalayan elephants with round tusks like wheels and necks decorated with golden ornaments is not worth a sixteenth part of the result of this rice-crust gift.
Even if someone became the ruler of this whole earth, a wheel-turning monarch, even his happiness is not worth a sixteenth part of the result of this rice-crust gift.
BJT 183“Khi ngài đang đi khất thực, trong khi đang đứng với trạng thái im lặng, có người đàn bà nghèo khổ, khốn cùng, sống nương tựa ở nhà của người khác.
BJT 184Được tịnh tín, nàng đã tự tay dâng đến ngài bọt nước cơm. Nàng ấy, sau khi từ bỏ thân xác loài người, đã đi đến phương trời nào?”
BJT 185“Khi tôi đang đi khất thực, trong khi đang đứng với trạng thái im lặng, có người đàn bà nghèo khổ, khốn cùng, sống nương tựa ở nhà của người khác.
BJT 186Được tịnh tín, nàng đã tự tay dâng đến tôi bọt nước cơm. Nàng ấy, sau khi từ bỏ thân xác loài người, đã chết từ nơi đây, đã được giải thoát.
BJT 187Có hạng chư Thiên tên gọi Hóa Lạc có đại thần lực, người đàn bà ấy, người nữ bố thí bọt nước cơm, được an lạc, vui sướng ở nơi ấy.”
BJT 188“Ôi, sự bố thí của người nữ khốn cùng đã khéo được thiết lập ở ngài Kassapa. Sự cúng dường với vật thí nhận được từ người khác quả nhiên đã được thành tựu.
BJT 189Người phụ nữ nào xinh đẹp ở mọi phần thân thể, được xem là quý giá đối với chồng, có thể được lập làm chánh hậu của đức vua Chuyển Luân, (vẫn) không giá trị bằng một phần mười sáu của sự bố thí bọt nước cơm ấy.
BJT 190Một trăm tiền vàng, một trăm con ngựa, một trăm xe lừa kéo, một trăm ngàn thiếu nữ có các bông hoa tai bằng ngọc ma-ni đã được trau chuốt, (vẫn) không giá trị bằng một phần mười sáu của sự bố thí bọt nước cơm ấy.
BJT 191Một trăm con long tượng thuộc vùng núi Hi-mã-lạp, có các ngà như càng xe, vạm vỡ, là loài voi mātaṅga có áo giáp bằng vàng, có yên cương bằng vàng, (vẫn) không giá trị bằng một phần mười sáu của sự bố thí bọt nước cơm ấy.
BJT 192Ở đây, người nào có thể hành xử vương quyền đối với cả bốn châu lục cũng không giá trị bằng một phần mười sáu của sự bố thí bọt nước cơm ấy.”
Thiên Cung của Người Nữ Bố Thí Bọt Nước Cơm.
“Piṇḍāya te carantassa,
tuṇhībhūtassa tiṭṭhato;
Daliddā kapaṇā nārī,
parāgāraṁ apassitā.
Yā te adāsi ācāmaṁ,
pasannā sehi pāṇibhi;
Sā hitvā mānusaṁ dehaṁ,
kaṁ nu sā disataṁ gatā”ti.
“Piṇḍāya me carantassa,
tuṇhībhūtassa tiṭṭhato;
Daliddā kapaṇā nārī,
parāgāraṁ apassitā.
Yā me adāsi ācāmaṁ,
pasannā sehi pāṇibhi;
Sā hitvā mānusaṁ dehaṁ,
vippamuttā ito cutā.
Nimmānaratino nāma,
santi devā mahiddhikā;
Tattha sā sukhitā nārī,
modatācāmadāyikā”ti.
“Aho dānaṁ varākiyā,
kassape suppatiṭṭhitaṁ;
Parābhatena dānena,
ijjhittha vata dakkhiṇā.
Yā mahesittaṁ kāreyya,
cakkavattissa rājino;
Nārī sabbaṅgakalyāṇī,
bhattu cānomadassikā;
Etassācāmadānassa,
kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
Sataṁ nikkhā sataṁ assā,
sataṁ assatarīrathā;
Sataṁ kaññāsahassāni,
āmuttamaṇikuṇḍalā;
Etassācāmadānassa,
kalaṁ nāgghanti soḷasiṁ.
Sataṁ hemavatā nāgā,
īsādantā urūḷhavā;
Suvaṇṇakacchā mātaṅgā,
hemakappanavāsasā;
Etassācāmadānassa,
kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
Catunnamapi dīpānaṁ,
issaraṁ yodha kāraye;
Etassācāmadānassa,
kalaṁ nāgghati soḷasin”ti.
Ācāmadāyikāvimānaṁ tatiyaṁ.