BJT 690“Ở Thiên cung màu đỏ tía, được trải cát bằng vàng, nàng vui thích về phần trình tấu khéo léo với năm loại nhạc cụ.
BJT 691Từ Thiên cung đã được hóa hiện ra, làm bằng châu ngọc ấy, nàng đã bước xuống, rồi đã đi sâu vào khu rừng cây sālā được trổ hoa vào mọi thời điểm.
BJT 692Này nàng tiên, tại mỗi một gốc cây sālā mà nàng dừng lại, loài cây cao quý nhất ấy, từng cây một, đều nghiêng xuống và thả rơi các bông hoa.
BJT 693Được lay động bởi gió, được gió thổi, khu rừng cây sālā đã được các loài chim lai vãng; giống như cây mañjūsaka, hương thơm (của khu rừng) thổi đi khắp các phương.
BJT 694Nàng ngửi hương thơm tinh khiết ấy, nàng nhìn thấy hình ảnh không thuộc nhân gian. Hỡi nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 695“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã là tỳ nữ ở gia đình của người chồng. Sau khi nhìn thấy đức Phật đang ngồi, tôi đã rải rắc với những bông hoa sālā.
BJT 696Được tịnh tín, tôi đã tự tay hiến dâng đến đức Phật vòng hoa đội đầu làm bằng bông hoa sālā và đã được làm khéo léo.
BJT 697Sau khi đã thực hiện việc làm ấy, là việc tốt lành đã được đức Phật khen ngợi, với nỗi sầu muộn đã được xa lìa, được an vui, tôi khởi tâm hoan hỷ, không có tật bệnh.”
Thiên Cung Màu Đỏ Tía.
“Mañjiṭṭhake vimānasmiṁ,
soṇṇavālukasanthate;
Pañcaṅgikena tūriyena,
ramasi suppavādite.
Tamhā vimānā oruyha,
nimmitā ratanāmayā;
Ogāhasi sālavanaṁ,
pupphitaṁ sabbakālikaṁ.
Yassa yasseva sālassa,
mūle tiṭṭhasi devate;
So so muñcati pupphāni,
onamitvā dumuttamo.
Vāteritaṁ sālavanaṁ,
ādhutaṁ dijasevitaṁ;
Vāti gandho disā sabbā,
rukkho mañjūsako yathā.
Ghāyase taṁ sucigandhaṁ,
rūpaṁ passasi amānusaṁ;
Devate pucchitācikkha,
kissa kammassidaṁ phalan”ti.
“Ahaṁ manussesu manussabhūtā,
Dāsī ayirakule ahuṁ;
Buddhaṁ nisinnaṁ disvāna,
Sālapupphehi okiriṁ.
Vaṭaṁsakañca sukataṁ,
sālapupphamayaṁ ahaṁ;
Buddhassa upanāmesiṁ,
pasannā sehi pāṇibhi.
Tāhaṁ kammaṁ karitvāna,
kusalaṁ buddhavaṇṇitaṁ;
Apetasokā sukhitā,
sampamodāmanāmayā”ti.
Mañjiṭṭhakavimānaṁ paṭhamaṁ.
English translation not yet available.
BJT 690“Ở Thiên cung màu đỏ tía, được trải cát bằng vàng, nàng vui thích về phần trình tấu khéo léo với năm loại nhạc cụ.
BJT 691Từ Thiên cung đã được hóa hiện ra, làm bằng châu ngọc ấy, nàng đã bước xuống, rồi đã đi sâu vào khu rừng cây sālā được trổ hoa vào mọi thời điểm.
BJT 692Này nàng tiên, tại mỗi một gốc cây sālā mà nàng dừng lại, loài cây cao quý nhất ấy, từng cây một, đều nghiêng xuống và thả rơi các bông hoa.
BJT 693Được lay động bởi gió, được gió thổi, khu rừng cây sālā đã được các loài chim lai vãng; giống như cây mañjūsaka, hương thơm (của khu rừng) thổi đi khắp các phương.
BJT 694Nàng ngửi hương thơm tinh khiết ấy, nàng nhìn thấy hình ảnh không thuộc nhân gian. Hỡi nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 695“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã là tỳ nữ ở gia đình của người chồng. Sau khi nhìn thấy đức Phật đang ngồi, tôi đã rải rắc với những bông hoa sālā.
BJT 696Được tịnh tín, tôi đã tự tay hiến dâng đến đức Phật vòng hoa đội đầu làm bằng bông hoa sālā và đã được làm khéo léo.
BJT 697Sau khi đã thực hiện việc làm ấy, là việc tốt lành đã được đức Phật khen ngợi, với nỗi sầu muộn đã được xa lìa, được an vui, tôi khởi tâm hoan hỷ, không có tật bệnh.”
Thiên Cung Màu Đỏ Tía.
“Mañjiṭṭhake vimānasmiṁ,
soṇṇavālukasanthate;
Pañcaṅgikena tūriyena,
ramasi suppavādite.
Tamhā vimānā oruyha,
nimmitā ratanāmayā;
Ogāhasi sālavanaṁ,
pupphitaṁ sabbakālikaṁ.
Yassa yasseva sālassa,
mūle tiṭṭhasi devate;
So so muñcati pupphāni,
onamitvā dumuttamo.
Vāteritaṁ sālavanaṁ,
ādhutaṁ dijasevitaṁ;
Vāti gandho disā sabbā,
rukkho mañjūsako yathā.
Ghāyase taṁ sucigandhaṁ,
rūpaṁ passasi amānusaṁ;
Devate pucchitācikkha,
kissa kammassidaṁ phalan”ti.
“Ahaṁ manussesu manussabhūtā,
Dāsī ayirakule ahuṁ;
Buddhaṁ nisinnaṁ disvāna,
Sālapupphehi okiriṁ.
Vaṭaṁsakañca sukataṁ,
sālapupphamayaṁ ahaṁ;
Buddhassa upanāmesiṁ,
pasannā sehi pāṇibhi.
Tāhaṁ kammaṁ karitvāna,
kusalaṁ buddhavaṇṇitaṁ;
Apetasokā sukhitā,
sampamodāmanāmayā”ti.
Mañjiṭṭhakavimānaṁ paṭhamaṁ.