BJT 213Tư cách bạn lành đã được bậc Hiền Trí khen ngợi khi đề cập đến thế gian. Trong khi thân cận với các bạn lành, ngay cả kẻ ngu dốt cũng có thể trở thành người sáng trí.
BJT 214Những người tốt nên được thân cận, như thế trí tuệ tăng trưởng cho những người thân cận. Người thân cận những người tốt có thể thoát khỏi tất cả những nỗi khổ đau.
BJT 215(Người thân cận những người tốt) có thể nhận thức được Khổ, sự sanh lên của Khổ, sự Tịch Diệt, và Đạo Lộ tám chi phần, luôn cả bốn Chân Lý cao thượng.
BJT 216Bản thể người nữ là khổ, (là điều) đã được đấng Điều Ngự Trượng Phu nói đến. Tình trạng có chung chồng cũng là khổ, một số người nữ sanh đẻ lần đầu (cũng là khổ).
BJT 217Những người nữ mang bào thai nghịch tử (nằm sai vị trí) thậm chí còn cắt ở cổ họng, những người có thân hình mảnh mai ăn vào các chất độc, cả hai (mẹ và con) đều gánh chịu các sự bất hạnh.
BJT 218Khi đã gần đến lúc sanh nở, trong khi đang đi (về nhà mẹ), tôi đã nhìn thấy người chồng bị chết. Tôi đã sanh đẻ ở trên đường, khi tôi còn chưa đạt đến căn nhà của mình.
BJT 219(Paṭācārā) người đàn bà khốn khổ có hai con trai đã qua đời, và người chồng đã chết trên đường đi, mẹ, cha, và em trai được thiêu đốt chung một giàn hỏa táng.
BJT 220Này người đàn bà khốn khổ có gia tộc đã bị tiêu tán, khổ đau của nàng đã gánh chịu là vô ngần, và nước mắt của nàng đã được tuôn trào trong nhiều ngàn kiếp sống.
BJT 221Tôi cũng đã nhìn thấy khi ấy, ở giữa bãi tha ma, những mẩu thịt của con trai bị ngấu nghiến (bởi loài thú). Là người nữ có gia tộc đã bị giết chết, bị mọi người quở trách, là góa phụ, tôi đã chứng đắc sự Bất Tử.
BJT 222Thánh Đạo tám chi phần đưa đến sự Bất Tử đã được tôi tu tập, Niết Bàn đã được tôi chứng ngộ; tôi đã nhìn thấy tấm gương Giáo Pháp.
BJT 223Tôi có mũi tên đã được nhổ lên, có gánh nặng đã được đặt xuống, có việc cần làm đã được làm xong. Trưởng lão ni Kisāgotamī, với tâm đã được giải thoát, đã nói lên điều này.”
Trưởng lão ni Kisāgotamī đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Kisāgotamī.
Nhóm Mười Một được chấm dứt.
“Kalyāṇamittatā muninā,
lokaṁ ādissa vaṇṇitā;
Kalyāṇamitte bhajamāno,
api bālo paṇḍito assa.
Bhajitabbā sappurisā,
Paññā tathā vaḍḍhati bhajantānaṁ;
Bhajamāno sappurise,
Sabbehipi dukkhehi pamucceyya.
Dukkhañca vijāneyya,
Dukkhassa ca samudayaṁ nirodhaṁ;
Aṭṭhaṅgikañca maggaṁ,
Cattāripi ariyasaccāni”.
“Dukkho itthibhāvo,
Akkhāto purisadammasārathinā;
Sapattikampi hi dukkhaṁ,
Appekaccā sakiṁ vijātāyo.
Galake api kantanti,
Sukhumāliniyo visāni khādanti;
Janamārakamajjhagatā,
Ubhopi byasanāni anubhonti”.
“Upavijaññā gacchantī,
addasāhaṁ patiṁ mataṁ;
Panthamhi vijāyitvāna,
appattāva sakaṁ gharaṁ.
Dve puttā kālakatā,
Patī ca panthe mato kapaṇikāya;
Mātā pitā ca bhātā,
Ḍayhanti ca ekacitakāyaṁ”.
“Khīṇakulīne kapaṇe,
Anubhūtaṁ te dukhaṁ aparimāṇaṁ;
Assū ca te pavattaṁ,
Bahūni ca jātisahassāni.
Vasitā susānamajjhe,
Athopi khāditāni puttamaṁsāni;
Hatakulikā sabbagarahitā,
Matapatikā amatamadhigacchiṁ.
Bhāvito me maggo,
Ariyo aṭṭhaṅgiko amatagāmī;
Nibbānaṁ sacchikataṁ,
Dhammādāsaṁ avekkhiṁhaṁ.
Ahamamhi kantasallā,
Ohitabhārā katañhi karaṇīyaṁ;
Kisā gotamī therī,
Vimuttacittā imaṁ bhaṇī”ti.
… Kisā gotamī therī ….
Ekādasakanipāto niṭṭhito.
SC 1SC Verse 213PTS Verse 213Ms 19Th2_285Msdiv 213Having admirable friends
has been praised by the Sage
with reference to the world.
Associating with an admirable friend
even a fool
becomes wise.
SC 2SC Verse 214PTS Verse 214Ms 19Th2_286Msdiv 214People of integrity
should be associated with.
In that way discernment grows.
Associating with people of integrity
one would be released from all suffering & stress,
SC 3SC Verse 215PTS Verse 215Ms 19Th2_287Msdiv 215would know stress,
the origination of stress,
cessation & the eightfold path:
the four noble truths.
SC 4SC Verse 216PTS Verse 216PTS vp Pali 144Ms 19Th2_288Msdiv 216Stressful, painful, is the woman's state:
so says the tamer of tamable people.
Being a co-wife is painful.
Some, on giving birth once,
SC 5SC Verse 217PTS Verse 217Ms 19Th2_289Msdiv 217slit their throats.
Others, of delicate constitution,
take poison.
In the midst of a breech-birth
both [mother & child] suffer destruction.
SC 6SC Verse 218PTS Verse 218Ms 19Th2_290Msdiv 218Going along, about to give birth,
I saw my husband dead.
Giving birth in the road,
I hadn't reached my own home.
SC 7SC Verse 219PTS Verse 219Ms 19Th2_291Msdiv 219Two children deceased,
my husband dead in the road
— miserable me!
My mother, father, & brother
were burning on a single pyre.
SC 8SC Verse 220PTS Verse 220Ms 19Th2_292Msdiv 220"Your family all gone, miserable,
you've suffered pain without measure.
Your tears have flowed
for many thousands of lives."
SC 9SC Verse 221PTS Verse 221Ms 19Th2_293Msdiv 221Then I saw,
I the midst of the charnel ground,
the muscles of sons being chewed.
With family killed,
despised by all,
my husband dead,
I reached the Deathless.
SC 10SC Verse 222PTS Verse 222Ms 19Th2_294Msdiv 222I've developed this path,
noble, eightfold,
going to the Deathless.
Having realized Unbinding,
I've gazed in the mirror of Dhamma.
SC 11SC Verse 223PTS Verse 223Ms 19Th2_295Msdiv 223I've cut out the arrow,
put down the burden,
done the task.
I, KisaGotami Theri,
my heart well-released,
have said this.
BJT 213Tư cách bạn lành đã được bậc Hiền Trí khen ngợi khi đề cập đến thế gian. Trong khi thân cận với các bạn lành, ngay cả kẻ ngu dốt cũng có thể trở thành người sáng trí.
BJT 214Những người tốt nên được thân cận, như thế trí tuệ tăng trưởng cho những người thân cận. Người thân cận những người tốt có thể thoát khỏi tất cả những nỗi khổ đau.
BJT 215(Người thân cận những người tốt) có thể nhận thức được Khổ, sự sanh lên của Khổ, sự Tịch Diệt, và Đạo Lộ tám chi phần, luôn cả bốn Chân Lý cao thượng.
BJT 216Bản thể người nữ là khổ, (là điều) đã được đấng Điều Ngự Trượng Phu nói đến. Tình trạng có chung chồng cũng là khổ, một số người nữ sanh đẻ lần đầu (cũng là khổ).
BJT 217Những người nữ mang bào thai nghịch tử (nằm sai vị trí) thậm chí còn cắt ở cổ họng, những người có thân hình mảnh mai ăn vào các chất độc, cả hai (mẹ và con) đều gánh chịu các sự bất hạnh.
BJT 218Khi đã gần đến lúc sanh nở, trong khi đang đi (về nhà mẹ), tôi đã nhìn thấy người chồng bị chết. Tôi đã sanh đẻ ở trên đường, khi tôi còn chưa đạt đến căn nhà của mình.
BJT 219(Paṭācārā) người đàn bà khốn khổ có hai con trai đã qua đời, và người chồng đã chết trên đường đi, mẹ, cha, và em trai được thiêu đốt chung một giàn hỏa táng.
BJT 220Này người đàn bà khốn khổ có gia tộc đã bị tiêu tán, khổ đau của nàng đã gánh chịu là vô ngần, và nước mắt của nàng đã được tuôn trào trong nhiều ngàn kiếp sống.
BJT 221Tôi cũng đã nhìn thấy khi ấy, ở giữa bãi tha ma, những mẩu thịt của con trai bị ngấu nghiến (bởi loài thú). Là người nữ có gia tộc đã bị giết chết, bị mọi người quở trách, là góa phụ, tôi đã chứng đắc sự Bất Tử.
BJT 222Thánh Đạo tám chi phần đưa đến sự Bất Tử đã được tôi tu tập, Niết Bàn đã được tôi chứng ngộ; tôi đã nhìn thấy tấm gương Giáo Pháp.
BJT 223Tôi có mũi tên đã được nhổ lên, có gánh nặng đã được đặt xuống, có việc cần làm đã được làm xong. Trưởng lão ni Kisāgotamī, với tâm đã được giải thoát, đã nói lên điều này.”
Trưởng lão ni Kisāgotamī đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Kisāgotamī.
Nhóm Mười Một được chấm dứt.
“Kalyāṇamittatā muninā,
lokaṁ ādissa vaṇṇitā;
Kalyāṇamitte bhajamāno,
api bālo paṇḍito assa.
Bhajitabbā sappurisā,
Paññā tathā vaḍḍhati bhajantānaṁ;
Bhajamāno sappurise,
Sabbehipi dukkhehi pamucceyya.
Dukkhañca vijāneyya,
Dukkhassa ca samudayaṁ nirodhaṁ;
Aṭṭhaṅgikañca maggaṁ,
Cattāripi ariyasaccāni”.
“Dukkho itthibhāvo,
Akkhāto purisadammasārathinā;
Sapattikampi hi dukkhaṁ,
Appekaccā sakiṁ vijātāyo.
Galake api kantanti,
Sukhumāliniyo visāni khādanti;
Janamārakamajjhagatā,
Ubhopi byasanāni anubhonti”.
“Upavijaññā gacchantī,
addasāhaṁ patiṁ mataṁ;
Panthamhi vijāyitvāna,
appattāva sakaṁ gharaṁ.
Dve puttā kālakatā,
Patī ca panthe mato kapaṇikāya;
Mātā pitā ca bhātā,
Ḍayhanti ca ekacitakāyaṁ”.
“Khīṇakulīne kapaṇe,
Anubhūtaṁ te dukhaṁ aparimāṇaṁ;
Assū ca te pavattaṁ,
Bahūni ca jātisahassāni.
Vasitā susānamajjhe,
Athopi khāditāni puttamaṁsāni;
Hatakulikā sabbagarahitā,
Matapatikā amatamadhigacchiṁ.
Bhāvito me maggo,
Ariyo aṭṭhaṅgiko amatagāmī;
Nibbānaṁ sacchikataṁ,
Dhammādāsaṁ avekkhiṁhaṁ.
Ahamamhi kantasallā,
Ohitabhārā katañhi karaṇīyaṁ;
Kisā gotamī therī,
Vimuttacittā imaṁ bhaṇī”ti.
… Kisā gotamī therī ….
Ekādasakanipāto niṭṭhito.