BJT 447Ở thành phố Mantāvatī, Sumedhā, người con gái của hoàng hậu chánh cung của đức vua Koñca, đã có được đức tin nhờ vào những vị đang thực hành Giáo Pháp.
BJT 448Là người có giới hạnh, nói năng khôn khéo, có sự nghe nhiều, đã được dạy dỗ về lời dạy của đức Phật, Sumedhā đã đi đến gặp mẹ cha rồi nói với cả hai người rằng: ‘Xin mẹ cha hãy lắng nghe.
BJT 449Con thích thú Niết Bàn. Việc đi đến các hữu là không trường tồn, dầu là thuộc về cõi Trời đi nữa; vậy thì có gì với các dục rỗng không, ít khoái lạc, nhiều tai họa?
BJT 450Các dục là cay đắng, ví như nọc độc của rắn, khiến những kẻ ngu bị mê mẩn. Chúng bị đọa vào địa ngục thời gian dài, bị hành hạ, khổ đau.
BJT 451Có việc làm ác, có trí xấu xa, thường xuyên không thu thúc về thân, về khẩu, và về ý, (những kẻ ngu) sầu khổ ở đọa xứ.
BJT 452Những kẻ ngu ấy có ác tuệ, không có ý tứ, bị giam hãm bởi (tham ái) nguyên nhân của Khổ; trong khi (có người) đang thuyết giảng, chúng không hiểu, không giác ngộ các Chân Lý cao thượng.
BJT 453Thưa mẹ, những kẻ thích thú việc đi đến các hữu, mong mỏi việc sanh về các cõi Trời, những kẻ ấy là nhiều hơn, chúng không biết các Chân Lý đã được thuyết giảng bởi đức Phật cao quý.
BJT 454Khi việc đi đến các hữu là vô thường, việc sanh về thậm chí ở các cõi Trời cũng là không trường tồn; những kẻ ngu không sợ hãi đối với việc bị sanh lần này lần khác.
BJT 455Bốn đọa xứ và hai cảnh giới tái sanh (người và Trời) được đạt đến bằng cách này hay cách khác; còn đối với những kẻ đã đi đến đọa xứ thì không có việc xuất gia ở các địa ngục.
BJT 456Cả hai (mẹ và cha) hãy cho phép con xuất gia theo lời giáo huấn của đấng Thập Lực. Ít bị bận rộn, con sẽ cố gắng cho việc dứt bỏ sự sanh và sự chết.
BJT 457Có gì với việc đi đến các hữu, với việc được vui thú, với tội lỗi của thân xác không có thực chất? Vì sự diệt tận đối với tham ái ở các hữu, xin mẹ cha hãy cho phép, con sẽ xuất gia.
BJT 458Sự hiện khởi của chư Phật, lúc không phải thời cơ đã được tránh khỏi, thời cơ đã đạt được, con sẽ không làm hư hỏng các giới và Phạm hạnh cho đến trọn đời.
BJT 459Khi nào còn là người tại gia thì con sẽ không động đến thức ăn, con dứt khoát sẽ đi đến cái chết.’ Sumedhā nói với mẹ cha như vậy.
BJT 460Bị khổ đau, mẹ khóc, và người cha của cô gái đã bị tác động toàn diện, (hai người) cố gắng thuyết phục đứa con đã nằm dài xuống nền nhà ở sân thượng của tòa lâu đài.
BJT 461‘Này con, hãy đứng dậy. Việc gì phải bị sầu muộn? Con đã được gả về thành phố Vāraṇavatī. Đức vua Aṇīkadatta đẹp trai. Con đã được gả cho ông ta.
BJT 462Con sẽ là hoàng hậu chánh cung, là vợ của đức vua Aṇīkadatta. Này con, các giới cấm, sự thực hành Phạm hạnh, sự xuất gia là các việc khó làm.
BJT 463Ở vương quốc, có uy lực, tài sản, vương quyền, của cải, sung sướng. Con còn trẻ, con hãy thọ hưởng sự hưởng thụ các dục. Này con, hãy để cho cuộc hôn lễ của con được tiến hành.’
BJT 464Khi ấy, Sumedhā nói với mẹ cha rằng: ‘Đừng có những việc như thế. Việc đi đến các hữu là không có thực chất. Đối với con, hoặc là sẽ có sự xuất gia, hoặc là cái chết, và dứt khoát không có đám cưới.
BJT 465Giống như loài dòi, con bám víu vào cái thân hôi thối, không trong sạch, có mùi mồ hôi, cái thây ma đáng kinh sợ, cái túi da có sự rò rỉ thường xuyên, chứa đầy các chất dơ.
BJT 466Nó tựa như cái gì? Trong khi con biết rằng xác thân là ghê tởm, bị lấm lem những thịt và máu, chỗ trú của nhiều loại dòi, bữa ăn của những con chim, tại sao thân xác lại được đem cho?
BJT 467Không bao lâu, khi tâm thức đã lìa, thân xác được đem ra bãi tha ma. Các thân quyến, trong khi ghê tởm, quăng bỏ nó giống như khúc gỗ mục.
BJT 468Sau khi đã quăng bỏ thân xác ấy ở bãi tha ma làm bữa ăn cho những loài thú khác, mẹ và cha ruột, trong khi ghê tởm, tắm rửa; còn nhóm người công chúng thì sao?
BJT 469Họ bị dính mắc ở cái thân xác, không có thực chất, sự tập hợp các xương và những sợi gân, cái thân hôi thối, chứa đầy nước miếng, nước mắt, phân, và nước tiểu.
BJT 470Người nào, sau khi mổ xẻ thân ấy, có thể làm cho cái phần bên trong ra bên ngoài, ngay cả người mẹ ruột, trong khi không chịu nổi mùi của nó, cũng sẽ ghê tởm.
BJT 471Trong khi suy xét đúng đường lối về (năm) uẩn, (mười tám) giới, (mười hai) xứ là pháp tạo tác, là nền tảng của sự sanh, là khổ đau, tại sao con còn mong muốn đám cưới?
BJT 472Mỗi một ngày ba trăm cây giáo mới tinh rơi xuống ở thân thể, và dẫu cho sự hành hạ trong một trăm năm cũng vẫn là tốt hơn, nếu như vậy mà có được sự cạn kiệt của khổ đau.
BJT 473Người nào có thể chấp nhận sự hành hạ sau khi nhận thức lời nói như vầy của bậc Đạo Sư: ‘Trong khi những người ấy đang bị giết chết lần này lần khác, luân hồi là dài đối với họ.’
BJT 474Các sự hành hạ vô số kể được nhìn thấy ở chư Thiên, ở nhân loại, ở chủng loại các loài thú, ở tập thể của A-tu-la, ở các loài ngạ quỷ, và ở các địa ngục.
BJT 475Có nhiều sự hành hạ ở các địa ngục dành cho người đã đi đến đọa xứ, dành cho người đang bị áp chế, thậm chí không có sự ẩn náu ở giữa chư Thiên, không có gì vượt trội sự an lạc của Niết Bàn.
BJT 476Những người nào gắn bó với lời giáo huấn của đấng Thập Lực, ít bị bận rộn, cố gắng cho việc dứt bỏ sự sanh và sự chết, những người ấy đạt được Niết Bàn.
BJT 477Thưa cha, ngay hôm nay con sẽ xuất ly. Việc gì với các của cải không có thực chất? Các dục đã bị con nhàm chán; chúng được xem là vật đã được mửa ra, đã được làm thành thân cây thốt nốt (bị cụt ngọn).’
BJT 478Nàng ấy đã nói như thế với cha. Và Aṇīkadatta, người mà nàng ấy được gả cho, đã đi đến theo nghi thức của việc cưới hỏi, vào thời điểm đã được xác định là lễ cưới.
BJT 479Khi ấy, Sumedhā, sau khi cắt đứt đầu tóc đen nhánh, dầy, rậm, mềm mại bằng con dao, sau đó đã đóng lại (cánh cửa) tòa lâu đài, rồi đã thể nhập tầng thiền thứ nhất.
BJT 480Và nàng đã thể nhập thiền ấy. Rồi Aṇīkadatta đã đi đến thành phố. Ngay tại tòa lâu đài, Sumedhā (đã) khéo tu tập tưởng về vô thường.
BJT 481(Trong lúc) Sumedhā bận chú tâm, Aṇīkadatta đã vội vã bước lên, với thân hình được trang điểm với ngọc ma-ni và vàng, với tay chắp lại, thỉnh cầu Sumedhā rằng:
BJT 482‘Ở vương quốc, có uy lực, tài sản, vương quyền, của cải, sung sướng. Nàng còn trẻ, nàng hãy thọ hưởng sự hưởng thụ các dục. Sự khoái lạc của các dục ở thế gian là rất khó đạt được.
BJT 483Vương quốc đã được trao cho nàng. Nàng hãy thọ hưởng các của cải, hãy bố thí các vật thí. Nàng chớ có ủ dột, (khiến) mẹ cha của nàng khổ đau.’
BJT 484Sumedhā, không có mục đích với các dục, có sự si mê đã xa lìa, nói điều này với Aṇīkadatta: ‘Chớ thích thú ở các dục. Chàng hãy nhìn thấy điều bất lợi ở các dục.
BJT 485Đức vua Mandhātā của bốn châu lục đã đứng đầu trong số những người thọ hưởng dục lạc, (nhưng vẫn) không được thỏa mãn, đã chết đi, và các điều mong muốn của vị ấy đã không được đầy đủ.
BJT 486Thần mưa có thể làm cơn mưa bảy loại châu báu ở xung quanh khắp cả mười phương, nhưng không có sự thỏa mãn của các dục. Loài người chết đi, thật sự không được thỏa mãn.
BJT 487Các dục ví như dao và thớt; các dục ví như đầu rắn độc; chúng thiêu đốt ví như các cây đuốc cỏ; chúng tương tự như bộ xương.
BJT 488Các dục là không thường còn, không bền vững, nhiều khổ đau, là những chất độc lớn lao, tựa như cục sắt đã được nung nóng, là gốc rễ của tội lỗi, có kết quả khổ đau.
BJT 489Các dục ví như trái trên cây; ví như miếng thịt, khổ đau; ví như giấc chiêm bao, lừa bịp; các dục ví như vật vay mượn.
BJT 490Các dục ví như gươm giáo, là bệnh tật, mụt nhọt, tội lỗi, khốn khổ, tương tự hố than cháy rực, là gốc rễ của tội lỗi, sợ hãi, giết chóc.
BJT 491Các dục có nhiều khổ đau như vậy, đã được nói đến là các chướng ngại. Quý vị hãy đi đi, bản thân tôi không có sự tin tưởng ở việc đi đến các hữu.
BJT 492Người khác sẽ làm gì cho tôi khi cái đầu của bản thân tôi đang bị thiêu đốt? Khi sự sống và chết đuổi theo sau, thì nên cố gắng cho việc diệt trừ đối với điều ấy.’
BJT 493Sau khi mở ra cánh cửa, nhìn thấy mẹ cha và Aṇīkadatta ngồi ở nền nhà đang khóc than, tôi đã nói điều này:
BJT 494‘Luân hồi là dài lâu cho những kẻ ngu và những kẻ đang khóc lóc lần này lần khác về việc không có khởi đầu và chấm dứt, về cái chết của cha, về sự chết chóc của anh em trai, và về sự chết chóc của bản thân.
BJT 495Hãy nhớ rằng nước mắt, sữa, máu, sự luân hồi không có khởi đầu và chấm dứt. Hãy nhớ rằng sự chồng chất của những khúc xương của các chúng sanh đang luân hồi.
BJT 496Hãy nhớ rằng nước mắt, sữa, máu đã được so sánh với bốn biển. Hãy nhớ rằng sự chồng chất của những khúc xương trong một đại kiếp là sánh bằng núi Vipula.
BJT 497Quả địa cầu, xứ Jambudīpa, được so sánh với kẻ đang luân hồi (ở sự luân hồi) không có khởi đầu và chấm dứt; (trái đất được làm thành) những viên bi nhỏ như hạt táo vẫn không sánh bằng những lần đã lần lượt làm mẹ.
BJT 498Hãy nhớ rằng cỏ, củi, cành, lá được so sánh với sự (luân hồi) không có khởi đầu và chấm dứt. (Cắt cỏ, củi, cành, lá thành) những mẩu bốn ngón tay vẫn không sánh bằng những lần đã lần lượt làm cha.
BJT 499Hãy nhớ rằng con rùa mù và lỗ hổng ở cái ách (trôi dạt) ở biển đông sang phía tây. Và hãy nhớ rằng sự gặp gỡ của nó là ví dụ về việc đạt được bản thể nhân loại.
BJT 500Hãy nhớ rằng hình thể của xác thân tồi tệ, không có thực chất, ví như cục bong bóng nước. Hãy nhìn thấy các uẩn là vô thường. Hãy nhớ rằng các địa ngục là có nhiều tai họa.
BJT 501Hãy nhớ về những kiếp sống kia kiếp sống nọ đang làm phát triển bãi tha ma lúc này lúc khác. Hãy nhớ đến những nỗi sợ hãi về cá sấu (sự tham ăn). Hãy nhớ về bốn Chân Lý.
BJT 502Trong khi Bất Tử đang được biết đến, chàng được cái gì với việc uống vào năm vật cay đắng? Bởi vì mọi sự thích thú ở các dục còn đắng cay hơn năm vật cay đắng nữa.
BJT 503Trong khi sự Bất Tử đang được biết đến, chàng được cái gì với các dục, là những thứ có sự nóng nực? Bởi vì mọi sự thích thú ở các dục là bị cháy rực, bị sôi sục, bị rung chuyển, bị thiêu đốt.
BJT 504Trong khi là không có kẻ thù, chàng được cái gì với các dục, là những thứ có nhiều kẻ thù? Các dục là có nhiều kẻ thù, ví dụ như các vị vua, ngọn lửa, trộm cướp, nước (lũ), người không yêu thương, v.v…
BJT 505Trong khi sự Giải Thoát đang được biết đến, chàng được cái gì với các dục, ở những thứ ấy có sự giết hại và trói buộc. Bởi vì do dục không tốt đẹp trong số các dục, chúng sanh chịu đựng những khổ đau do sự giết hại và trói buộc.
BJT 506Những cây đuốc cỏ, đã được thắp sáng, đốt nóng những người đang nắm lấy và không bao giờ chịu buông ra. Các dục, quả giống như cây đuốc, đốt nóng những người không chịu buông ra.
BJT 507Chớ từ bỏ sự an lạc lớn lao vì nguyên nhân khoái lạc ít ỏi của các dục. Chớ như con cá Puthuloma đã nuốt vào lưỡi câu về sau bị khốn khổ.
BJT 508Chỉ còn cách hãy hết lòng kiềm chế đối với các dục, tựa như con chó bị trói buộc vào sợi xích. Quả vậy, các dục sẽ đối xử với ngươi, tựa như hạng người hạ liệt bị đói sẽ đối xử với con chó.
BJT 509Bị vướng vào ở các dục, chàng sẽ chịu đựng nhiều khổ đau vô hạn lượng và buồn bực ở tâm trí. Hãy buông bỏ các dục không được bền lâu.
BJT 510Trong khi sự không già đang được biết đến, chàng được cái gì với các dục, ở những thứ ấy có sự già. Ở khắp mọi nơi, tất cả các sự sanh ra đều bị nắm giữ bởi sự chết và bệnh tật.
BJT 511Cái này là không già, cái này là không chết, cái này là vị thế không già không chết, không sầu muộn, không kẻ thù, không chướng ngại, không lầm lỗi, không sợ hãi, khỏi bị nóng nảy.
BJT 512Sự Bất Tử này đã được chứng đắc bởi nhiều người. Ngay cả hôm nay, cái này vẫn còn được chứng ngộ (đối với) người nào áp dụng đúng đường lối, và không thể được với người không cố gắng.’
BJT 513Trong khi không đạt được sự thích thú ở việc đi đến các sự tạo tác, Sumedhā nói như vậy. Trong khi thuyết phục Aṇīkadatta, Sumedhā đã ném nắm tóc xuống nền nhà.
BJT 514Sau khi đứng lên, Aṇīkadatta ấy đã chắp tay thỉnh cầu mẹ cha của nàng rằng: ‘Quý vị hãy cho phép Sumedhā được xuất gia; nàng sẽ có sự nhìn thấy Giải Thoát và Chân Lý.’
BJT 515Được mẹ cha cho phép, bị sợ hãi vì sự sầu muộn và lo sợ (luân hồi), nàng đã xuất gia. Trong khi còn là vị ni tu tập sự, sáu Thắng Trí và quả vị cao cả đã được (nàng) chứng ngộ.
BJT 516Niết Bàn kỳ diệu, phi thường ấy đã thuộc về người con gái của đức vua, như đã được nàng nói rõ về việc làm trong đời sống thuộc thời quá khứ ở vào thời điểm cuối cùng.
BJT 517Vào thời đức Thế Tôn Koṇāgamana, chúng tôi gồm ba người bạn gái đã dâng cúng trú xá ở tại chỗ cư ngụ mới là tu viện của hội chúng.
BJT 518Chúng tôi đã tái sanh mười lần, trăm lần, ngàn lần, mười ngàn lần ở các cõi trời, thì ở cõi người có điều gì để nói.
BJT 519Chúng tôi đã có đại thần lực ở cõi trời, thì ở cõi người có điều gì để nói. Tôi đã là hoàng hậu, là báu vật nữ nhân trong số bảy loại báu vật.
BJT 520Nhân ấy, nguồn sanh khởi ấy, căn nguyên ấy, sự chăm chỉ ấy trong Giáo Pháp, sự liên kết đầu tiên ấy, việc Niết Bàn ấy là do sự thỏa thích trong Giáo Pháp.
BJT 521Những người nào tin tưởng vào lời nói của bậc Trí Tuệ Cao Thượng thì thực hành như vậy, họ nhàm chán việc đi đến các hữu, sau khi nhàm chán họ lìa khỏi ái luyến.”
Trưởng lão ni Sumedhā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Sumedhā.
Nhóm Lớn được chấm dứt.
“Tất cả các câu kệ ấy là năm trăm hai mươi mốt. Các trưởng lão ni là một trăm lẻ một, tất cả các vị ni ấy có sự cạn kiệt của các lậu hoặc.”
TRƯỞNG LÃO NI KỆ ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ.
Mantāvatiyā nagare,
Rañño koñcassa aggamahesiyā;
Dhītā āsiṁ sumedhā,
Pasāditā sāsanakarehi.
Sīlavatī cittakathā,
Bahussutā buddhasāsane vinitā;
Mātāpitaro upagamma,
Bhaṇati “ubhayo nisāmetha.
Nibbānābhiratāhaṁ,
Asassataṁ bhavagataṁ yadipi dibbaṁ;
Kimaṅgaṁ pana tucchā kāmā,
Appassādā bahuvighātā.
Kāmā kaṭukā āsī,
Visūpamā yesu mucchitā bālā;
Te dīgharattaṁ niraye,
Samappitā haññante dukkhitā.
Socanti pāpakammā,
Vinipāte pāpavaddhino sadā;
Kāyena ca vācāya ca,
Manasā ca asaṁvutā bālā.
Bālā te duppaññā,
Acetanā dukkhasamudayoruddhā;
Desente ajānantā,
Na bujjhare ariyasaccāni.
Saccāni amma buddhavaradesitāni,
Te bahutarā ajānantā ye;
Abhinandanti bhavagataṁ,
Pihenti devesu upapattiṁ.
Devesupi upapatti,
Asassatā bhavagate aniccamhi;
Na ca santasanti bālā,
Punappunaṁ jāyitabbassa.
Cattāro vinipātā,
Duve ca gatiyo kathañci labbhanti;
Na ca vinipātagatānaṁ,
Pabbajjā atthi nirayesu.
Anujānātha maṁ ubhayo,
Pabbajituṁ dasabalassa pāvacane;
Appossukkā ghaṭissaṁ,
Jātimaraṇappahānāya.
Kiṁ bhavagate abhinanditena,
Kāyakalinā asārena;
Bhavataṇhāya nirodhā,
Anujānātha pabbajissāmi.
Buddhānaṁ uppādo vivajjito,
Akkhaṇo khaṇo laddho;
Sīlāni brahmacariyaṁ,
Yāvajīvaṁ na dūseyyaṁ”.
Evaṁ bhaṇati sumedhā,
Mātāpitaro “na tāva āhāraṁ;
Āharissaṁ gahaṭṭhā,
Maraṇavasaṁ gatāva hessāmi”.
Mātā dukkhitā rodati pitā ca,
Assā sabbaso samabhihato;
Ghaṭenti saññāpetuṁ,
Pāsādatale chamāpatitaṁ.
“Uṭṭhehi puttaka kiṁ soci,
Tena dinnāsi vāraṇavatimhi;
Rājā anīkaratto,
Abhirūpo tassa tvaṁ dinnā.
Aggamahesī bhavissasi,
Anikarattassa rājino bhariyā;
Sīlāni brahmacariyaṁ,
Pabbajjā dukkarā puttaka.
Rajje āṇā dhanamissariyaṁ,
Bhogā sukhā daharikāsi;
Bhuñjāhi kāmabhoge,
Vāreyyaṁ hotu te putta”.
Atha ne bhaṇati sumedhā,
“Mā edisikāni bhavagatamasāraṁ;
Pabbajjā vā hohiti,
Maraṇaṁ vā me na ceva vāreyyaṁ.
Kimiva pūtikāyamasuciṁ,
Savanagandhaṁ bhayānakaṁ kuṇapaṁ;
Abhisaṁviseyyaṁ bhastaṁ,
Asakiṁ paggharitaṁ asucipuṇṇaṁ.
Kimiva tahaṁ jānantī,
Vikūlakaṁ maṁsasoṇitupalittaṁ;
Kimikulālayaṁ sakuṇabhattaṁ,
Kaḷevaraṁ kissa diyyati.
Nibbuyhati susānaṁ,
Aciraṁ kāyo apetaviññāṇo;
Chuddho kaḷiṅgaraṁ viya,
Jigucchamānehi ñātīhi.
Chuddhūna naṁ susāne,
Parabhattaṁ nhāyanti jigucchantā;
Niyakā mātāpitaro,
Kiṁ pana sādhāraṇā janatā.
Ajjhositā asāre,
Kaḷevare aṭṭhinhārusaṅghāte;
Kheḷassuccārassava,
Paripuṇṇe pūtikāyamhi.
Yo naṁ vinibbhujitvā,
Abbhantaramassa bāhiraṁ kayirā;
Gandhassa asahamānā,
Sakāpi mātā jiguccheyya.
Khandhadhātuāyatanaṁ,
Saṅkhataṁ jātimūlakaṁ dukkhaṁ;
Yoniso anuvicinantī,
Vāreyyaṁ kissa iccheyyaṁ.
Divase divase tisatti,
Satāni navanavā pateyyuṁ kāyamhi;
Vassasatampi ca ghāto,
Seyyo dukkhassa cevaṁ khayo.
Ajjhupagacche ghātaṁ,
Yo viññāyevaṁ satthuno vacanaṁ;
‘Dīgho tesaṁ saṁsāro,
Punappunaṁ haññamānānaṁ’.
Devesu manussesu ca,
Tiracchānayoniyā asurakāye;
Petesu ca nirayesu ca,
Aparimitā dissare ghātā.
Ghātā nirayesu bahū,
Vinipātagatassa pīḷiyamānassa;
Devesupi attāṇaṁ,
Nibbānasukhā paraṁ natthi.
Pattā te nibbānaṁ,
Ye yuttā dasabalassa pāvacane;
Appossukkā ghaṭenti,
Jātimaraṇappahānāya.
Ajjeva tātabhinikkha-
Missaṁ bhogehi kiṁ asārehi;
Nibbinnā me kāmā,
Vantasamā tālavatthukatā”.
Sā cevaṁ bhaṇati pitara-
Manīkaratto ca yassa sā dinnā;
Upayāsi vāraṇavate,
Vāreyyamupaṭṭhite kāle.
Atha asitanicitamuduke,
Kese khaggena chindiya sumedhā;
Pāsādaṁ pidahitvā,
Paṭhamajjhānaṁ samāpajji.
Sā ca tahiṁ samāpannā,
Anīkaratto ca āgato nagaraṁ;
Pāsāde ca sumedhā,
Aniccasaññaṁ subhāveti.
Sā ca manasi karoti,
Anīkaratto ca āruhī turitaṁ;
Maṇikanakabhūsitaṅgo,
Katañjalī yācati sumedhaṁ.
“Rajje āṇādhanamissa-
Riyaṁ bhogā sukhā daharikāsi;
Bhuñjāhi kāmabhoge,
Kāmasukhā dullabhā loke.
Nissaṭṭhaṁ te rajjaṁ,
Bhoge bhuñjassu dehi dānāni;
Mā dummanā ahosi,
Mātāpitaro te dukkhitā”.
Taṁ taṁ bhaṇati sumedhā,
Kāmehi anatthikā vigatamohā;
“Mā kāme abhinandi,
Kāmesvādīnavaṁ passa.
Cātuddīpo rājā,
Mandhātā āsi kāmabhoginamaggo;
Atitto kālaṅkato,
Na cassa paripūritā icchā.
Satta ratanāni vasseyya,
Vuṭṭhimā dasadisā samantena;
Na catthi titti kāmānaṁ,
Atittāva maranti narā.
Asisūnūpamā kāmā,
kāmā sappasiropamā;
Ukkopamā anudahanti,
aṭṭhikaṅkala sannibhā.
Aniccā adhuvā kāmā,
bahudukkhā mahāvisā;
Ayoguḷova santatto,
aghamūlā dukhapphalā.
Rukkhapphalūpamā kāmā,
maṁsapesūpamā dukhā;
Supinopamā vañcaniyā,
kāmā yācitakūpamā.
Sattisūlūpamā kāmā,
rogo gaṇḍo aghaṁ nighaṁ;
Aṅgārakāsusadisā,
aghamūlaṁ bhayaṁ vadho.
Evaṁ bahudukkhā kāmā,
akkhātā antarāyikā;
Gacchatha na me bhavagate,
vissāso atthi attano.
Kiṁ mama paro karissati,
Attano sīsamhi ḍayhamānamhi;
Anubandhe jarāmaraṇe,
Tassa ghātāya ghaṭitabbaṁ”.
Dvāraṁ apāpuritvānahaṁ,
Mātāpitaro anīkarattañca;
Disvāna chamaṁ nisinne,
Rodante idamavocaṁ.
“Dīgho bālānaṁ saṁsāro,
Punappunañca rodataṁ;
Anamatagge pitu maraṇe,
Bhātu vadhe attano ca vadhe.
Assu thaññaṁ rudhiraṁ,
Saṁsāraṁ anamataggato saratha;
Sattānaṁ saṁsarataṁ,
Sarāhi aṭṭhīnañca sannicayaṁ.
Sara caturodadhī,
Upanīte assuthaññarudhiramhi;
Sara ekakappamaṭṭhīnaṁ,
Sañcayaṁ vipulena samaṁ.
Anamatagge saṁsarato,
Mahiṁ jambudīpamupanītaṁ;
Kolaṭṭhimattaguḷikā,
Mātā mātusveva nappahonti.
Tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ,
Upanītaṁ anamataggato sara;
Caturaṅgulikā ghaṭikā,
Pitupitusveva nappahonti.
Sara kāṇakacchapaṁ pubba-
Samudde aparato ca yugachiddaṁ;
Siraṁ tassa ca paṭimukkaṁ,
Manussalābhamhi opammaṁ.
Sara rūpaṁ pheṇapiṇḍopa-
Massa kāyakalino asārassa;
Khandhe passa anicce,
Sarāhi niraye bahuvighāte.
Sara kaṭasiṁ vaḍḍhente,
Punappunaṁ tāsu tāsu jātīsu;
Sara kumbhīlabhayāni ca,
Sarāhi cattāri saccāni.
Amatamhi vijjamāne,
Kiṁ tava pañcakaṭukena pītena;
Sabbā hi kāmaratiyo,
Kaṭukatarā pañcakaṭukena.
Amatamhi vijjamāne,
Kiṁ tava kāmehi ye pariḷāhā;
Sabbā hi kāmaratiyo,
Jalitā kuthitā kampitā santāpitā.
Asapattamhi samāne,
Kiṁ tava kāmehi ye bahusapattā;
Rājaggicoraudakappiyehi,
Sādhāraṇā kāmā bahusapattā.
Mokkhamhi vijjamāne,
Kiṁ tava kāmehi yesu vadhabandho;
Kāmesu hi asakāmā,
Vadhabandhadukhāni anubhonti.
Ādīpitā tiṇukkā,
Gaṇhantaṁ dahanti neva muñcantaṁ;
Ukkopamā hi kāmā,
Dahanti ye te na muñcanti.
Mā appakassa hetu,
Kāmasukhassa vipulaṁ jahī sukhaṁ;
Mā puthulomova baḷisaṁ,
Gilitvā pacchā vihaññasi.
Kāmaṁ kāmesu damassu,
Tāva sunakhova saṅkhalābaddho;
Kāhinti khu taṁ kāmā,
Chātā sunakhaṁva caṇḍālā.
Aparimitañca dukkhaṁ,
Bahūni ca cittadomanassāni;
Anubhohisi kāmayutto,
Paṭinissaja addhuve kāme.
Ajaramhi vijjamāne,
Kiṁ tava kāmehi yesu jarā;
Maraṇabyādhigahitā,
Sabbā sabbattha jātiyo.
Idamajaramidamamaraṁ,
Idamajarāmaraṁ padamasokaṁ;
Asapattamasambādhaṁ,
Akhalitamabhayaṁ nirupatāpaṁ.
Adhigatamidaṁ bahūhi,
Amataṁ ajjāpi ca labhanīyamidaṁ;
Yo yoniso payuñjati,
Na ca sakkā aghaṭamānena”.
Evaṁ bhaṇati sumedhā,
Saṅkhāragate ratiṁ alabhamānā;
Anunentī anikarattaṁ,
Kese ca chamaṁ khipi sumedhā.
Uṭṭhāya anikaratto,
Pañjaliko yācatassā pitaraṁ so;
“Vissajjetha sumedhaṁ,
Pabbajituṁ vimokkhasaccadassā”.
Vissajjitā mātāpitūhi,
pabbaji sokabhayabhītā;
Cha abhiññā sacchikatā,
aggaphalaṁ sikkhamānāya.
Acchariyamabbhutaṁ taṁ,
Nibbānaṁ āsi rājakaññāya;
Pubbenivāsacaritaṁ,
Yathā byākari pacchime kāle.
“Bhagavati koṇāgamane,
Saṅghārāmamhi navanivesamhi;
Sakhiyo tisso janiyo,
Vihāradānaṁ adāsimha.
Dasakkhattuṁ satakkhattuṁ,
Dasasatakkhattuṁ satāni ca satakkhattuṁ;
Devesu uppajjimha,
Ko pana vādo manussesu.
Devesu mahiddhikā ahumha,
Mānusakamhi ko pana vādo;
Sattaratanassa mahesī,
Itthiratanaṁ ahaṁ āsiṁ.
So hetu so pabhavo,
Taṁ mūlaṁ sāva sāsane khantī;
Taṁ paṭhamasamodhānaṁ,
Taṁ dhammaratāya nibbānaṁ.
Evaṁ karonti ye sadda-
Hanti vacanaṁ anomapaññassa;
Nibbindanti bhavagate,
Nibbinditvā virajjantī”ti.
Itthaṁ sudaṁ sumedhā therī gāthāyo abhāsitthāti.
Mahānipāto niṭṭhito.
Samattā therīgāthāyo
Gāthāsatāni cattāri,
asīti puna cuddasa;
Theriyekuttarasatā,
sabbā tā āsavakkhayāti.
Therīgāthāpāḷi niṭṭhitā.
In Mantāvatī city, Sumedhā,
the daughter of King Koñca’s chief queen,
was converted by those
who practice the Buddha’s teaching.
She was virtuous, a brilliant speaker,
learned, and trained in the Buddha’s instructions.
She went up to her mother and father and said:
“Pay heed, both of you!
I delight in extinguishment!
No state of life is eternal, not even that of the gods;
what then of sensual pleasures, so hollow,
offering little gratification and much distress.
Sensual pleasures are bitter as the venom of a snake,
yet fools are infatuated by them.
Sent to hell for a very long time,
they are beaten and tortured.
Those who grow in wickedness
ever lament in the underworld due to their own bad deeds.
They’re fools, unrestrained in body,
mind, and speech.
Those witless, senseless fools,
trapped by the origin of suffering,
are ignorant, not understanding the noble truths
when they are being taught.
Most people, mum, ignorant of the truths
taught by the excellent Buddha,
look forward to a state of life,
longing for rebirth among the gods.
Yet even rebirth among the gods
in an impermanent state of life is not eternal.
But fools are not scared
of being reborn time and again.
Four lower realms and two other realms
may be gained somehow or other.
But for those who end up in a lower realm,
there is no way to go forth in the hells.
May you both grant me permission to go forth
in the dispensation of him of the ten powers.
Living at ease, I shall apply myself
to giving up rebirth and death.
Why look forward to a new state of life
in this useless, insubstantial body?
Grant me permission, I shall go forth
to make an end of craving for a new life.
A Buddha has arisen, the time has come,
the unlucky moment has passed.
As long as I live I’ll never betray
my ethical precepts or my chaste path.”
Then Sumedhā said to her parents:
“So long as I remain a layperson,
I’ll refuse to eat any food,
until I’ve fallen under the sway of death.”
Upset, her mother burst into tears,
while her father, though grieved,
tried his best to persuade her
as she lay collapsed upstairs in the longhouse.
“Get up child, why do you grieve so?
You’re already betrothed to be married!
King Anīkaratta the handsome
is in Vāraṇavatī: he is your betrothed.
You shall be the chief queen,
wife of King Anīkaratta.
Ethical precepts, the chaste path—
going forth is hard to do, my child.
As a royal there is command, wealth, authority,
and the happiness of possessions.
Enjoy sensual pleasures while you’re still young!
Let your wedding take place, my child!”
Then Sumedhā said to him:
“Let this not come to pass! Existence is hollow!
I shall either go forth or die,
but I shall never marry.
Why cling to this rotting body so foul,
stinking of fluids,
a horrifying water-bag carcass,
always oozing, full of filth?
Knowing it like I do, what’s the point?
A carcass is vile, smeared with flesh and blood,
food for birds and swarms of worms—
why have we been given it?
Before long the body, bereft of consciousness,
is carried out to the charnel ground,
to be discarded like an old log
by relatives in disgust.
When they’ve discarded it in the charnel ground,
to be eaten by others, your own parents
bathe themselves, disgusted;
what then of people at large?
They’re attached to this hollow carcass,
this mass of sinews and bone;
this rotting body
full of saliva, tears, feces, and pus.
If anyone were to dissect it,
turning it inside out,
the unbearable stench
would disgust even their own mother.
Rationally examining
the aggregates, elements, and sense fields
as conditioned, rooted in birth, suffering—
why would I wish for marriage?
Let three hundred sharp swords
fall on my body everyday!
Even if the slaughter lasted a hundred years
it’d be worth it if it led to the end of suffering.
One who understands the Teacher’s words
would put up with this slaughter:
‘Long for you is transmigration
being killed time and time again.’
Among gods and humans,
in the realm of animals or that of titans,
among the ghosts or in the hells,
endless killings are seen.
The hells are full of killing,
for the corrupt who have fallen to the underworld.
Even among the gods there is no shelter,
for no happiness excels extinguishment.
Those who are committed to the dispensation
of him of the ten powers attain extinguishment.
Living at ease, they apply themselves
to giving up rebirth and death.
On this very day, dad, I shall renounce:
what’s to enjoy in hollow riches?
I’m disillusioned with sensual pleasures,
they’re like vomit, made like a palm stump.”
As she spoke thus to her father,
Anīkaratta, to whom she was betrothed,
approached from Vāraṇavatī
at the time appointed for the marriage.
Then Sumedhā took up a knife,
and cut off her hair, so black, thick, and soft.
Shutting herself in the longhouse,
she entered the first absorption.
And as she entered it there,
Anīkaratta arrived at the city.
Then in the longhouse, Sumedhā
well developed the perception of impermanence.
As she investigated in meditation,
Anīkaratta quickly climbed the stairs.
His limbs adorned with gems and honey-yellow gold,
he begged Sumedhā with joined palms:
“As a royal there is command, wealth, authority,
and the happiness of possessions.
Enjoy sensual pleasures while you’re still young!
Sensual pleasures are hard to find in the world!
I’ve handed royalty to you—
enjoy riches, give gifts!
Don’t be sad;
your parents are upset.”
Sumedhā, having no use for sensual pleasures,
and having done away with delusion, spoke right back:
“Do not take pleasure in sensuality!
See the danger in sensual pleasures!
Mandhātā, king of four continents,
foremost in enjoying sensual pleasures,
died unsated,
his desires unfulfilled.
Were the seven jewels to rain from the sky
all over the ten directions,
there would be no sating of sensual pleasures:
people die insatiable.
Like a butcher’s knife and chopping board,
sensual pleasures are like a snake’s head.
They burn like a fire-brand,
they resemble a skeleton.
Sensual pleasures are impermanent and unstable,
they’re full of suffering, a terrible poison;
like a hot iron ball,
the root of gloom, their fruit is pain.
Sensual pleasures are like fruits of a tree,
like scraps of meat, painful,
they trick you like a dream;
sensual pleasures are like borrowed goods.
Sensual pleasures are like swords and spears;
a disease, a boil, gloom and trouble.
Like a pit of glowing coals,
the root of gloom, fear and slaughter.
Thus sensual pleasures have been explained
to be obstructions, so full of suffering.
Please leave! As for me,
I have no trust in any state of life.
What can someone else do for me
when their own head is burning?
When stalked by old age and death,
you should strive to destroy them.”
She opened the door
and saw her parents with Anīkaratta,
sitting crying on the floor.
And so she said this:
“Transmigration is long for fools,
crying again and again at that with no known beginning—
the death of a father,
the killing of a brother or of themselves.
Remember the ocean of tears, of milk, of blood—
transmigration with no known beginning.
Remember the bones piled up
by beings transmigrating.
Remember the four oceans
compared with tears, milk, and blood.
Remember bones piled up high as Mount Vipula
in the course of a single eon.
Transmigration with no known beginning
is compared to this broad Black Plum Tree Land;
if divided into lumps the size of jujube seeds,
they’d still be fewer than his mother’s mothers.
Remember the grass, sticks, and leaves,
compare that with no known beginning:
if split into chips four inches in size,
they’d still be fewer than his father’s fathers.
Remember the one-eyed turtle and the yoke with a hole
blown in the ocean from east to west—
sticking the head in the hole
is a metaphor for gaining a human birth.
Remember the form of this unlucky body,
insubstantial as a lump of foam.
See the aggregates as impermanent,
remember the hells so full of distress.
Remember those swelling the charnel grounds
again and again in life after life.
Remember the danger of gharials!
Remember the four truths!
When freedom from death is there to be found,
why would you drink the five bitter poisons?
For all erotic delights
are so much more bitter than them.
When freedom from death is there to be found,
why would you burn for sensual pleasures?
For all erotic delights
are burning, boiling, bubbling, seething.
When there is freedom from enmity,
why would you want your enemy, sensual pleasures?
Many enemies take a share of your sensual pleasures:
kings, fire, robbers, flood, and unloved heirs.
When liberation is there to be found,
what good are sensual pleasures that kill and bind?
For though unwilling, when sensual pleasures are there,
they are subject to the pain of killing and binding.
As a blazing grass torch
burns one who grasps it without letting go,
sensual pleasures are like a grass torch,
burning those who do not let go.
Don’t give up abundant happiness
for the trivial joys of sensual pleasure.
Don’t fret later,
like a catfish on a hook.
Deliberately control yourself among sensual pleasures!
You’re like a hound fixed to a chain:
sensual pleasures will surely devour you
as hungry corpse-workers would a dog.
Harnessed to sensual pleasure,
you undergo endless pain,
along with much mental anguish:
relinquish sensual pleasures, they don’t last!
When the unaging is there to be found,
what good are sensual pleasures in which is old age?
All rebirths everywhere
are bonded to death and sickness.
This is freedom from old age, freedom from death!
This is freedom from old age and death, the sorrowless state!
Free of enmity, unconstricted,
faultless, fearless, without tribulations.
This freedom from death has been realized by many;
even today it can be obtained
by those who rationally apply themselves;
but it’s impossible if you don’t try.”
So said Sumedhā,
lacking delight in conditioned things.
Soothing Anīkaratta,
Sumedhā cast her hair on the ground.
Standing up, Anīkaratta
raised his joined palms to her father and begged:
“Let go of Sumedhā, so that she may go forth!
She will see the truth of liberation.”
Released by her mother and father,
she went forth, afraid of grief and fear.
While still a trainee nun she realized the six direct knowledges,
along with the highest fruit.
The extinguishment of the princess
was incredible and amazing;
on her deathbed, she declared
her several past lives.
“In the time of the Buddha Koṇāgamana,
we three friends gave the gift
of a newly-built dwelling
in the Saṅgha’s monastery.
Ten times, a hundred times,
a thousand times, ten thousand times,
we were reborn among the gods,
let alone among humans.
We were mighty among the gods,
let alone among humans!
I was queen to a king with the seven treasures—
I was the treasure of a wife.
That was the cause, that the origin, that the root,
that was the acceptance of the dispensation;
that first meeting culminated in extinguishment
for one delighting in the teaching.
So say those who have faith in the words
of the one unrivaled in wisdom.
They’re disillusioned with any state of life,
and being disillusioned they become dispassionate.”
That is how these verses were recited by the senior nun Sumedhā.
The Verses of the Senior Nuns are finished.
BJT 447Ở thành phố Mantāvatī, Sumedhā, người con gái của hoàng hậu chánh cung của đức vua Koñca, đã có được đức tin nhờ vào những vị đang thực hành Giáo Pháp.
BJT 448Là người có giới hạnh, nói năng khôn khéo, có sự nghe nhiều, đã được dạy dỗ về lời dạy của đức Phật, Sumedhā đã đi đến gặp mẹ cha rồi nói với cả hai người rằng: ‘Xin mẹ cha hãy lắng nghe.
BJT 449Con thích thú Niết Bàn. Việc đi đến các hữu là không trường tồn, dầu là thuộc về cõi Trời đi nữa; vậy thì có gì với các dục rỗng không, ít khoái lạc, nhiều tai họa?
BJT 450Các dục là cay đắng, ví như nọc độc của rắn, khiến những kẻ ngu bị mê mẩn. Chúng bị đọa vào địa ngục thời gian dài, bị hành hạ, khổ đau.
BJT 451Có việc làm ác, có trí xấu xa, thường xuyên không thu thúc về thân, về khẩu, và về ý, (những kẻ ngu) sầu khổ ở đọa xứ.
BJT 452Những kẻ ngu ấy có ác tuệ, không có ý tứ, bị giam hãm bởi (tham ái) nguyên nhân của Khổ; trong khi (có người) đang thuyết giảng, chúng không hiểu, không giác ngộ các Chân Lý cao thượng.
BJT 453Thưa mẹ, những kẻ thích thú việc đi đến các hữu, mong mỏi việc sanh về các cõi Trời, những kẻ ấy là nhiều hơn, chúng không biết các Chân Lý đã được thuyết giảng bởi đức Phật cao quý.
BJT 454Khi việc đi đến các hữu là vô thường, việc sanh về thậm chí ở các cõi Trời cũng là không trường tồn; những kẻ ngu không sợ hãi đối với việc bị sanh lần này lần khác.
BJT 455Bốn đọa xứ và hai cảnh giới tái sanh (người và Trời) được đạt đến bằng cách này hay cách khác; còn đối với những kẻ đã đi đến đọa xứ thì không có việc xuất gia ở các địa ngục.
BJT 456Cả hai (mẹ và cha) hãy cho phép con xuất gia theo lời giáo huấn của đấng Thập Lực. Ít bị bận rộn, con sẽ cố gắng cho việc dứt bỏ sự sanh và sự chết.
BJT 457Có gì với việc đi đến các hữu, với việc được vui thú, với tội lỗi của thân xác không có thực chất? Vì sự diệt tận đối với tham ái ở các hữu, xin mẹ cha hãy cho phép, con sẽ xuất gia.
BJT 458Sự hiện khởi của chư Phật, lúc không phải thời cơ đã được tránh khỏi, thời cơ đã đạt được, con sẽ không làm hư hỏng các giới và Phạm hạnh cho đến trọn đời.
BJT 459Khi nào còn là người tại gia thì con sẽ không động đến thức ăn, con dứt khoát sẽ đi đến cái chết.’ Sumedhā nói với mẹ cha như vậy.
BJT 460Bị khổ đau, mẹ khóc, và người cha của cô gái đã bị tác động toàn diện, (hai người) cố gắng thuyết phục đứa con đã nằm dài xuống nền nhà ở sân thượng của tòa lâu đài.
BJT 461‘Này con, hãy đứng dậy. Việc gì phải bị sầu muộn? Con đã được gả về thành phố Vāraṇavatī. Đức vua Aṇīkadatta đẹp trai. Con đã được gả cho ông ta.
BJT 462Con sẽ là hoàng hậu chánh cung, là vợ của đức vua Aṇīkadatta. Này con, các giới cấm, sự thực hành Phạm hạnh, sự xuất gia là các việc khó làm.
BJT 463Ở vương quốc, có uy lực, tài sản, vương quyền, của cải, sung sướng. Con còn trẻ, con hãy thọ hưởng sự hưởng thụ các dục. Này con, hãy để cho cuộc hôn lễ của con được tiến hành.’
BJT 464Khi ấy, Sumedhā nói với mẹ cha rằng: ‘Đừng có những việc như thế. Việc đi đến các hữu là không có thực chất. Đối với con, hoặc là sẽ có sự xuất gia, hoặc là cái chết, và dứt khoát không có đám cưới.
BJT 465Giống như loài dòi, con bám víu vào cái thân hôi thối, không trong sạch, có mùi mồ hôi, cái thây ma đáng kinh sợ, cái túi da có sự rò rỉ thường xuyên, chứa đầy các chất dơ.
BJT 466Nó tựa như cái gì? Trong khi con biết rằng xác thân là ghê tởm, bị lấm lem những thịt và máu, chỗ trú của nhiều loại dòi, bữa ăn của những con chim, tại sao thân xác lại được đem cho?
BJT 467Không bao lâu, khi tâm thức đã lìa, thân xác được đem ra bãi tha ma. Các thân quyến, trong khi ghê tởm, quăng bỏ nó giống như khúc gỗ mục.
BJT 468Sau khi đã quăng bỏ thân xác ấy ở bãi tha ma làm bữa ăn cho những loài thú khác, mẹ và cha ruột, trong khi ghê tởm, tắm rửa; còn nhóm người công chúng thì sao?
BJT 469Họ bị dính mắc ở cái thân xác, không có thực chất, sự tập hợp các xương và những sợi gân, cái thân hôi thối, chứa đầy nước miếng, nước mắt, phân, và nước tiểu.
BJT 470Người nào, sau khi mổ xẻ thân ấy, có thể làm cho cái phần bên trong ra bên ngoài, ngay cả người mẹ ruột, trong khi không chịu nổi mùi của nó, cũng sẽ ghê tởm.
BJT 471Trong khi suy xét đúng đường lối về (năm) uẩn, (mười tám) giới, (mười hai) xứ là pháp tạo tác, là nền tảng của sự sanh, là khổ đau, tại sao con còn mong muốn đám cưới?
BJT 472Mỗi một ngày ba trăm cây giáo mới tinh rơi xuống ở thân thể, và dẫu cho sự hành hạ trong một trăm năm cũng vẫn là tốt hơn, nếu như vậy mà có được sự cạn kiệt của khổ đau.
BJT 473Người nào có thể chấp nhận sự hành hạ sau khi nhận thức lời nói như vầy của bậc Đạo Sư: ‘Trong khi những người ấy đang bị giết chết lần này lần khác, luân hồi là dài đối với họ.’
BJT 474Các sự hành hạ vô số kể được nhìn thấy ở chư Thiên, ở nhân loại, ở chủng loại các loài thú, ở tập thể của A-tu-la, ở các loài ngạ quỷ, và ở các địa ngục.
BJT 475Có nhiều sự hành hạ ở các địa ngục dành cho người đã đi đến đọa xứ, dành cho người đang bị áp chế, thậm chí không có sự ẩn náu ở giữa chư Thiên, không có gì vượt trội sự an lạc của Niết Bàn.
BJT 476Những người nào gắn bó với lời giáo huấn của đấng Thập Lực, ít bị bận rộn, cố gắng cho việc dứt bỏ sự sanh và sự chết, những người ấy đạt được Niết Bàn.
BJT 477Thưa cha, ngay hôm nay con sẽ xuất ly. Việc gì với các của cải không có thực chất? Các dục đã bị con nhàm chán; chúng được xem là vật đã được mửa ra, đã được làm thành thân cây thốt nốt (bị cụt ngọn).’
BJT 478Nàng ấy đã nói như thế với cha. Và Aṇīkadatta, người mà nàng ấy được gả cho, đã đi đến theo nghi thức của việc cưới hỏi, vào thời điểm đã được xác định là lễ cưới.
BJT 479Khi ấy, Sumedhā, sau khi cắt đứt đầu tóc đen nhánh, dầy, rậm, mềm mại bằng con dao, sau đó đã đóng lại (cánh cửa) tòa lâu đài, rồi đã thể nhập tầng thiền thứ nhất.
BJT 480Và nàng đã thể nhập thiền ấy. Rồi Aṇīkadatta đã đi đến thành phố. Ngay tại tòa lâu đài, Sumedhā (đã) khéo tu tập tưởng về vô thường.
BJT 481(Trong lúc) Sumedhā bận chú tâm, Aṇīkadatta đã vội vã bước lên, với thân hình được trang điểm với ngọc ma-ni và vàng, với tay chắp lại, thỉnh cầu Sumedhā rằng:
BJT 482‘Ở vương quốc, có uy lực, tài sản, vương quyền, của cải, sung sướng. Nàng còn trẻ, nàng hãy thọ hưởng sự hưởng thụ các dục. Sự khoái lạc của các dục ở thế gian là rất khó đạt được.
BJT 483Vương quốc đã được trao cho nàng. Nàng hãy thọ hưởng các của cải, hãy bố thí các vật thí. Nàng chớ có ủ dột, (khiến) mẹ cha của nàng khổ đau.’
BJT 484Sumedhā, không có mục đích với các dục, có sự si mê đã xa lìa, nói điều này với Aṇīkadatta: ‘Chớ thích thú ở các dục. Chàng hãy nhìn thấy điều bất lợi ở các dục.
BJT 485Đức vua Mandhātā của bốn châu lục đã đứng đầu trong số những người thọ hưởng dục lạc, (nhưng vẫn) không được thỏa mãn, đã chết đi, và các điều mong muốn của vị ấy đã không được đầy đủ.
BJT 486Thần mưa có thể làm cơn mưa bảy loại châu báu ở xung quanh khắp cả mười phương, nhưng không có sự thỏa mãn của các dục. Loài người chết đi, thật sự không được thỏa mãn.
BJT 487Các dục ví như dao và thớt; các dục ví như đầu rắn độc; chúng thiêu đốt ví như các cây đuốc cỏ; chúng tương tự như bộ xương.
BJT 488Các dục là không thường còn, không bền vững, nhiều khổ đau, là những chất độc lớn lao, tựa như cục sắt đã được nung nóng, là gốc rễ của tội lỗi, có kết quả khổ đau.
BJT 489Các dục ví như trái trên cây; ví như miếng thịt, khổ đau; ví như giấc chiêm bao, lừa bịp; các dục ví như vật vay mượn.
BJT 490Các dục ví như gươm giáo, là bệnh tật, mụt nhọt, tội lỗi, khốn khổ, tương tự hố than cháy rực, là gốc rễ của tội lỗi, sợ hãi, giết chóc.
BJT 491Các dục có nhiều khổ đau như vậy, đã được nói đến là các chướng ngại. Quý vị hãy đi đi, bản thân tôi không có sự tin tưởng ở việc đi đến các hữu.
BJT 492Người khác sẽ làm gì cho tôi khi cái đầu của bản thân tôi đang bị thiêu đốt? Khi sự sống và chết đuổi theo sau, thì nên cố gắng cho việc diệt trừ đối với điều ấy.’
BJT 493Sau khi mở ra cánh cửa, nhìn thấy mẹ cha và Aṇīkadatta ngồi ở nền nhà đang khóc than, tôi đã nói điều này:
BJT 494‘Luân hồi là dài lâu cho những kẻ ngu và những kẻ đang khóc lóc lần này lần khác về việc không có khởi đầu và chấm dứt, về cái chết của cha, về sự chết chóc của anh em trai, và về sự chết chóc của bản thân.
BJT 495Hãy nhớ rằng nước mắt, sữa, máu, sự luân hồi không có khởi đầu và chấm dứt. Hãy nhớ rằng sự chồng chất của những khúc xương của các chúng sanh đang luân hồi.
BJT 496Hãy nhớ rằng nước mắt, sữa, máu đã được so sánh với bốn biển. Hãy nhớ rằng sự chồng chất của những khúc xương trong một đại kiếp là sánh bằng núi Vipula.
BJT 497Quả địa cầu, xứ Jambudīpa, được so sánh với kẻ đang luân hồi (ở sự luân hồi) không có khởi đầu và chấm dứt; (trái đất được làm thành) những viên bi nhỏ như hạt táo vẫn không sánh bằng những lần đã lần lượt làm mẹ.
BJT 498Hãy nhớ rằng cỏ, củi, cành, lá được so sánh với sự (luân hồi) không có khởi đầu và chấm dứt. (Cắt cỏ, củi, cành, lá thành) những mẩu bốn ngón tay vẫn không sánh bằng những lần đã lần lượt làm cha.
BJT 499Hãy nhớ rằng con rùa mù và lỗ hổng ở cái ách (trôi dạt) ở biển đông sang phía tây. Và hãy nhớ rằng sự gặp gỡ của nó là ví dụ về việc đạt được bản thể nhân loại.
BJT 500Hãy nhớ rằng hình thể của xác thân tồi tệ, không có thực chất, ví như cục bong bóng nước. Hãy nhìn thấy các uẩn là vô thường. Hãy nhớ rằng các địa ngục là có nhiều tai họa.
BJT 501Hãy nhớ về những kiếp sống kia kiếp sống nọ đang làm phát triển bãi tha ma lúc này lúc khác. Hãy nhớ đến những nỗi sợ hãi về cá sấu (sự tham ăn). Hãy nhớ về bốn Chân Lý.
BJT 502Trong khi Bất Tử đang được biết đến, chàng được cái gì với việc uống vào năm vật cay đắng? Bởi vì mọi sự thích thú ở các dục còn đắng cay hơn năm vật cay đắng nữa.
BJT 503Trong khi sự Bất Tử đang được biết đến, chàng được cái gì với các dục, là những thứ có sự nóng nực? Bởi vì mọi sự thích thú ở các dục là bị cháy rực, bị sôi sục, bị rung chuyển, bị thiêu đốt.
BJT 504Trong khi là không có kẻ thù, chàng được cái gì với các dục, là những thứ có nhiều kẻ thù? Các dục là có nhiều kẻ thù, ví dụ như các vị vua, ngọn lửa, trộm cướp, nước (lũ), người không yêu thương, v.v…
BJT 505Trong khi sự Giải Thoát đang được biết đến, chàng được cái gì với các dục, ở những thứ ấy có sự giết hại và trói buộc. Bởi vì do dục không tốt đẹp trong số các dục, chúng sanh chịu đựng những khổ đau do sự giết hại và trói buộc.
BJT 506Những cây đuốc cỏ, đã được thắp sáng, đốt nóng những người đang nắm lấy và không bao giờ chịu buông ra. Các dục, quả giống như cây đuốc, đốt nóng những người không chịu buông ra.
BJT 507Chớ từ bỏ sự an lạc lớn lao vì nguyên nhân khoái lạc ít ỏi của các dục. Chớ như con cá Puthuloma đã nuốt vào lưỡi câu về sau bị khốn khổ.
BJT 508Chỉ còn cách hãy hết lòng kiềm chế đối với các dục, tựa như con chó bị trói buộc vào sợi xích. Quả vậy, các dục sẽ đối xử với ngươi, tựa như hạng người hạ liệt bị đói sẽ đối xử với con chó.
BJT 509Bị vướng vào ở các dục, chàng sẽ chịu đựng nhiều khổ đau vô hạn lượng và buồn bực ở tâm trí. Hãy buông bỏ các dục không được bền lâu.
BJT 510Trong khi sự không già đang được biết đến, chàng được cái gì với các dục, ở những thứ ấy có sự già. Ở khắp mọi nơi, tất cả các sự sanh ra đều bị nắm giữ bởi sự chết và bệnh tật.
BJT 511Cái này là không già, cái này là không chết, cái này là vị thế không già không chết, không sầu muộn, không kẻ thù, không chướng ngại, không lầm lỗi, không sợ hãi, khỏi bị nóng nảy.
BJT 512Sự Bất Tử này đã được chứng đắc bởi nhiều người. Ngay cả hôm nay, cái này vẫn còn được chứng ngộ (đối với) người nào áp dụng đúng đường lối, và không thể được với người không cố gắng.’
BJT 513Trong khi không đạt được sự thích thú ở việc đi đến các sự tạo tác, Sumedhā nói như vậy. Trong khi thuyết phục Aṇīkadatta, Sumedhā đã ném nắm tóc xuống nền nhà.
BJT 514Sau khi đứng lên, Aṇīkadatta ấy đã chắp tay thỉnh cầu mẹ cha của nàng rằng: ‘Quý vị hãy cho phép Sumedhā được xuất gia; nàng sẽ có sự nhìn thấy Giải Thoát và Chân Lý.’
BJT 515Được mẹ cha cho phép, bị sợ hãi vì sự sầu muộn và lo sợ (luân hồi), nàng đã xuất gia. Trong khi còn là vị ni tu tập sự, sáu Thắng Trí và quả vị cao cả đã được (nàng) chứng ngộ.
BJT 516Niết Bàn kỳ diệu, phi thường ấy đã thuộc về người con gái của đức vua, như đã được nàng nói rõ về việc làm trong đời sống thuộc thời quá khứ ở vào thời điểm cuối cùng.
BJT 517Vào thời đức Thế Tôn Koṇāgamana, chúng tôi gồm ba người bạn gái đã dâng cúng trú xá ở tại chỗ cư ngụ mới là tu viện của hội chúng.
BJT 518Chúng tôi đã tái sanh mười lần, trăm lần, ngàn lần, mười ngàn lần ở các cõi trời, thì ở cõi người có điều gì để nói.
BJT 519Chúng tôi đã có đại thần lực ở cõi trời, thì ở cõi người có điều gì để nói. Tôi đã là hoàng hậu, là báu vật nữ nhân trong số bảy loại báu vật.
BJT 520Nhân ấy, nguồn sanh khởi ấy, căn nguyên ấy, sự chăm chỉ ấy trong Giáo Pháp, sự liên kết đầu tiên ấy, việc Niết Bàn ấy là do sự thỏa thích trong Giáo Pháp.
BJT 521Những người nào tin tưởng vào lời nói của bậc Trí Tuệ Cao Thượng thì thực hành như vậy, họ nhàm chán việc đi đến các hữu, sau khi nhàm chán họ lìa khỏi ái luyến.”
Trưởng lão ni Sumedhā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Sumedhā.
Nhóm Lớn được chấm dứt.
“Tất cả các câu kệ ấy là năm trăm hai mươi mốt. Các trưởng lão ni là một trăm lẻ một, tất cả các vị ni ấy có sự cạn kiệt của các lậu hoặc.”
TRƯỞNG LÃO NI KỆ ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ.
Mantāvatiyā nagare,
Rañño koñcassa aggamahesiyā;
Dhītā āsiṁ sumedhā,
Pasāditā sāsanakarehi.
Sīlavatī cittakathā,
Bahussutā buddhasāsane vinitā;
Mātāpitaro upagamma,
Bhaṇati “ubhayo nisāmetha.
Nibbānābhiratāhaṁ,
Asassataṁ bhavagataṁ yadipi dibbaṁ;
Kimaṅgaṁ pana tucchā kāmā,
Appassādā bahuvighātā.
Kāmā kaṭukā āsī,
Visūpamā yesu mucchitā bālā;
Te dīgharattaṁ niraye,
Samappitā haññante dukkhitā.
Socanti pāpakammā,
Vinipāte pāpavaddhino sadā;
Kāyena ca vācāya ca,
Manasā ca asaṁvutā bālā.
Bālā te duppaññā,
Acetanā dukkhasamudayoruddhā;
Desente ajānantā,
Na bujjhare ariyasaccāni.
Saccāni amma buddhavaradesitāni,
Te bahutarā ajānantā ye;
Abhinandanti bhavagataṁ,
Pihenti devesu upapattiṁ.
Devesupi upapatti,
Asassatā bhavagate aniccamhi;
Na ca santasanti bālā,
Punappunaṁ jāyitabbassa.
Cattāro vinipātā,
Duve ca gatiyo kathañci labbhanti;
Na ca vinipātagatānaṁ,
Pabbajjā atthi nirayesu.
Anujānātha maṁ ubhayo,
Pabbajituṁ dasabalassa pāvacane;
Appossukkā ghaṭissaṁ,
Jātimaraṇappahānāya.
Kiṁ bhavagate abhinanditena,
Kāyakalinā asārena;
Bhavataṇhāya nirodhā,
Anujānātha pabbajissāmi.
Buddhānaṁ uppādo vivajjito,
Akkhaṇo khaṇo laddho;
Sīlāni brahmacariyaṁ,
Yāvajīvaṁ na dūseyyaṁ”.
Evaṁ bhaṇati sumedhā,
Mātāpitaro “na tāva āhāraṁ;
Āharissaṁ gahaṭṭhā,
Maraṇavasaṁ gatāva hessāmi”.
Mātā dukkhitā rodati pitā ca,
Assā sabbaso samabhihato;
Ghaṭenti saññāpetuṁ,
Pāsādatale chamāpatitaṁ.
“Uṭṭhehi puttaka kiṁ soci,
Tena dinnāsi vāraṇavatimhi;
Rājā anīkaratto,
Abhirūpo tassa tvaṁ dinnā.
Aggamahesī bhavissasi,
Anikarattassa rājino bhariyā;
Sīlāni brahmacariyaṁ,
Pabbajjā dukkarā puttaka.
Rajje āṇā dhanamissariyaṁ,
Bhogā sukhā daharikāsi;
Bhuñjāhi kāmabhoge,
Vāreyyaṁ hotu te putta”.
Atha ne bhaṇati sumedhā,
“Mā edisikāni bhavagatamasāraṁ;
Pabbajjā vā hohiti,
Maraṇaṁ vā me na ceva vāreyyaṁ.
Kimiva pūtikāyamasuciṁ,
Savanagandhaṁ bhayānakaṁ kuṇapaṁ;
Abhisaṁviseyyaṁ bhastaṁ,
Asakiṁ paggharitaṁ asucipuṇṇaṁ.
Kimiva tahaṁ jānantī,
Vikūlakaṁ maṁsasoṇitupalittaṁ;
Kimikulālayaṁ sakuṇabhattaṁ,
Kaḷevaraṁ kissa diyyati.
Nibbuyhati susānaṁ,
Aciraṁ kāyo apetaviññāṇo;
Chuddho kaḷiṅgaraṁ viya,
Jigucchamānehi ñātīhi.
Chuddhūna naṁ susāne,
Parabhattaṁ nhāyanti jigucchantā;
Niyakā mātāpitaro,
Kiṁ pana sādhāraṇā janatā.
Ajjhositā asāre,
Kaḷevare aṭṭhinhārusaṅghāte;
Kheḷassuccārassava,
Paripuṇṇe pūtikāyamhi.
Yo naṁ vinibbhujitvā,
Abbhantaramassa bāhiraṁ kayirā;
Gandhassa asahamānā,
Sakāpi mātā jiguccheyya.
Khandhadhātuāyatanaṁ,
Saṅkhataṁ jātimūlakaṁ dukkhaṁ;
Yoniso anuvicinantī,
Vāreyyaṁ kissa iccheyyaṁ.
Divase divase tisatti,
Satāni navanavā pateyyuṁ kāyamhi;
Vassasatampi ca ghāto,
Seyyo dukkhassa cevaṁ khayo.
Ajjhupagacche ghātaṁ,
Yo viññāyevaṁ satthuno vacanaṁ;
‘Dīgho tesaṁ saṁsāro,
Punappunaṁ haññamānānaṁ’.
Devesu manussesu ca,
Tiracchānayoniyā asurakāye;
Petesu ca nirayesu ca,
Aparimitā dissare ghātā.
Ghātā nirayesu bahū,
Vinipātagatassa pīḷiyamānassa;
Devesupi attāṇaṁ,
Nibbānasukhā paraṁ natthi.
Pattā te nibbānaṁ,
Ye yuttā dasabalassa pāvacane;
Appossukkā ghaṭenti,
Jātimaraṇappahānāya.
Ajjeva tātabhinikkha-
Missaṁ bhogehi kiṁ asārehi;
Nibbinnā me kāmā,
Vantasamā tālavatthukatā”.
Sā cevaṁ bhaṇati pitara-
Manīkaratto ca yassa sā dinnā;
Upayāsi vāraṇavate,
Vāreyyamupaṭṭhite kāle.
Atha asitanicitamuduke,
Kese khaggena chindiya sumedhā;
Pāsādaṁ pidahitvā,
Paṭhamajjhānaṁ samāpajji.
Sā ca tahiṁ samāpannā,
Anīkaratto ca āgato nagaraṁ;
Pāsāde ca sumedhā,
Aniccasaññaṁ subhāveti.
Sā ca manasi karoti,
Anīkaratto ca āruhī turitaṁ;
Maṇikanakabhūsitaṅgo,
Katañjalī yācati sumedhaṁ.
“Rajje āṇādhanamissa-
Riyaṁ bhogā sukhā daharikāsi;
Bhuñjāhi kāmabhoge,
Kāmasukhā dullabhā loke.
Nissaṭṭhaṁ te rajjaṁ,
Bhoge bhuñjassu dehi dānāni;
Mā dummanā ahosi,
Mātāpitaro te dukkhitā”.
Taṁ taṁ bhaṇati sumedhā,
Kāmehi anatthikā vigatamohā;
“Mā kāme abhinandi,
Kāmesvādīnavaṁ passa.
Cātuddīpo rājā,
Mandhātā āsi kāmabhoginamaggo;
Atitto kālaṅkato,
Na cassa paripūritā icchā.
Satta ratanāni vasseyya,
Vuṭṭhimā dasadisā samantena;
Na catthi titti kāmānaṁ,
Atittāva maranti narā.
Asisūnūpamā kāmā,
kāmā sappasiropamā;
Ukkopamā anudahanti,
aṭṭhikaṅkala sannibhā.
Aniccā adhuvā kāmā,
bahudukkhā mahāvisā;
Ayoguḷova santatto,
aghamūlā dukhapphalā.
Rukkhapphalūpamā kāmā,
maṁsapesūpamā dukhā;
Supinopamā vañcaniyā,
kāmā yācitakūpamā.
Sattisūlūpamā kāmā,
rogo gaṇḍo aghaṁ nighaṁ;
Aṅgārakāsusadisā,
aghamūlaṁ bhayaṁ vadho.
Evaṁ bahudukkhā kāmā,
akkhātā antarāyikā;
Gacchatha na me bhavagate,
vissāso atthi attano.
Kiṁ mama paro karissati,
Attano sīsamhi ḍayhamānamhi;
Anubandhe jarāmaraṇe,
Tassa ghātāya ghaṭitabbaṁ”.
Dvāraṁ apāpuritvānahaṁ,
Mātāpitaro anīkarattañca;
Disvāna chamaṁ nisinne,
Rodante idamavocaṁ.
“Dīgho bālānaṁ saṁsāro,
Punappunañca rodataṁ;
Anamatagge pitu maraṇe,
Bhātu vadhe attano ca vadhe.
Assu thaññaṁ rudhiraṁ,
Saṁsāraṁ anamataggato saratha;
Sattānaṁ saṁsarataṁ,
Sarāhi aṭṭhīnañca sannicayaṁ.
Sara caturodadhī,
Upanīte assuthaññarudhiramhi;
Sara ekakappamaṭṭhīnaṁ,
Sañcayaṁ vipulena samaṁ.
Anamatagge saṁsarato,
Mahiṁ jambudīpamupanītaṁ;
Kolaṭṭhimattaguḷikā,
Mātā mātusveva nappahonti.
Tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṁ,
Upanītaṁ anamataggato sara;
Caturaṅgulikā ghaṭikā,
Pitupitusveva nappahonti.
Sara kāṇakacchapaṁ pubba-
Samudde aparato ca yugachiddaṁ;
Siraṁ tassa ca paṭimukkaṁ,
Manussalābhamhi opammaṁ.
Sara rūpaṁ pheṇapiṇḍopa-
Massa kāyakalino asārassa;
Khandhe passa anicce,
Sarāhi niraye bahuvighāte.
Sara kaṭasiṁ vaḍḍhente,
Punappunaṁ tāsu tāsu jātīsu;
Sara kumbhīlabhayāni ca,
Sarāhi cattāri saccāni.
Amatamhi vijjamāne,
Kiṁ tava pañcakaṭukena pītena;
Sabbā hi kāmaratiyo,
Kaṭukatarā pañcakaṭukena.
Amatamhi vijjamāne,
Kiṁ tava kāmehi ye pariḷāhā;
Sabbā hi kāmaratiyo,
Jalitā kuthitā kampitā santāpitā.
Asapattamhi samāne,
Kiṁ tava kāmehi ye bahusapattā;
Rājaggicoraudakappiyehi,
Sādhāraṇā kāmā bahusapattā.
Mokkhamhi vijjamāne,
Kiṁ tava kāmehi yesu vadhabandho;
Kāmesu hi asakāmā,
Vadhabandhadukhāni anubhonti.
Ādīpitā tiṇukkā,
Gaṇhantaṁ dahanti neva muñcantaṁ;
Ukkopamā hi kāmā,
Dahanti ye te na muñcanti.
Mā appakassa hetu,
Kāmasukhassa vipulaṁ jahī sukhaṁ;
Mā puthulomova baḷisaṁ,
Gilitvā pacchā vihaññasi.
Kāmaṁ kāmesu damassu,
Tāva sunakhova saṅkhalābaddho;
Kāhinti khu taṁ kāmā,
Chātā sunakhaṁva caṇḍālā.
Aparimitañca dukkhaṁ,
Bahūni ca cittadomanassāni;
Anubhohisi kāmayutto,
Paṭinissaja addhuve kāme.
Ajaramhi vijjamāne,
Kiṁ tava kāmehi yesu jarā;
Maraṇabyādhigahitā,
Sabbā sabbattha jātiyo.
Idamajaramidamamaraṁ,
Idamajarāmaraṁ padamasokaṁ;
Asapattamasambādhaṁ,
Akhalitamabhayaṁ nirupatāpaṁ.
Adhigatamidaṁ bahūhi,
Amataṁ ajjāpi ca labhanīyamidaṁ;
Yo yoniso payuñjati,
Na ca sakkā aghaṭamānena”.
Evaṁ bhaṇati sumedhā,
Saṅkhāragate ratiṁ alabhamānā;
Anunentī anikarattaṁ,
Kese ca chamaṁ khipi sumedhā.
Uṭṭhāya anikaratto,
Pañjaliko yācatassā pitaraṁ so;
“Vissajjetha sumedhaṁ,
Pabbajituṁ vimokkhasaccadassā”.
Vissajjitā mātāpitūhi,
pabbaji sokabhayabhītā;
Cha abhiññā sacchikatā,
aggaphalaṁ sikkhamānāya.
Acchariyamabbhutaṁ taṁ,
Nibbānaṁ āsi rājakaññāya;
Pubbenivāsacaritaṁ,
Yathā byākari pacchime kāle.
“Bhagavati koṇāgamane,
Saṅghārāmamhi navanivesamhi;
Sakhiyo tisso janiyo,
Vihāradānaṁ adāsimha.
Dasakkhattuṁ satakkhattuṁ,
Dasasatakkhattuṁ satāni ca satakkhattuṁ;
Devesu uppajjimha,
Ko pana vādo manussesu.
Devesu mahiddhikā ahumha,
Mānusakamhi ko pana vādo;
Sattaratanassa mahesī,
Itthiratanaṁ ahaṁ āsiṁ.
So hetu so pabhavo,
Taṁ mūlaṁ sāva sāsane khantī;
Taṁ paṭhamasamodhānaṁ,
Taṁ dhammaratāya nibbānaṁ.
Evaṁ karonti ye sadda-
Hanti vacanaṁ anomapaññassa;
Nibbindanti bhavagate,
Nibbinditvā virajjantī”ti.
Itthaṁ sudaṁ sumedhā therī gāthāyo abhāsitthāti.
Mahānipāto niṭṭhito.
Samattā therīgāthāyo
Gāthāsatāni cattāri,
asīti puna cuddasa;
Theriyekuttarasatā,
sabbā tā āsavakkhayāti.
Therīgāthāpāḷi niṭṭhitā.