BJT 37“Không đạt được sự an tịnh của ý, không làm chủ được việc kiểm soát ở tâm, tôi đã đi ra khỏi trú xá bốn lần, năm lần.
BJT 38Đối với tôi đây là đêm thứ tám, kể từ lúc ấy tham ái đã được xóa sạch. Do nhiều hiện tượng khổ đau, tôi đã thích thú ở sự không xao lãng; sự cạn kiệt của tham ái đã được tôi thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành.”
Trưởng lão ni Sāmā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Sāmā.
Nhóm Hai được chấm dứt.
“Catukkhattuṁ pañcakkhattuṁ,
vihārā upanikkhamiṁ;
Aladdhā cetaso santiṁ,
citte avasavattinī;
Tassā me aṭṭhamī ratti,
yato taṇhā samūhatā.
Bahūhi dukkhadhammehi,
appamādaratāya me;
Taṇhakkhayo anuppatto,
kataṁ buddhassa sāsanan”ti.
… Sāmā therī ….
Dukanipāto niṭṭhito.
Four or five times
I left my dwelling.
I had failed to find peace of heart,
or any control over my mind.
Now it is the eighth night
since craving was eradicated.
Though subject to so many painful things,
I have, through my love of diligence,
reached the ending of craving,
and fulfilled the Buddha’s instructions.
BJT 37“Không đạt được sự an tịnh của ý, không làm chủ được việc kiểm soát ở tâm, tôi đã đi ra khỏi trú xá bốn lần, năm lần.
BJT 38Đối với tôi đây là đêm thứ tám, kể từ lúc ấy tham ái đã được xóa sạch. Do nhiều hiện tượng khổ đau, tôi đã thích thú ở sự không xao lãng; sự cạn kiệt của tham ái đã được tôi thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành.”
Trưởng lão ni Sāmā đã nói những lời kệ như thế.
Kệ ngôn của trưởng lão ni Sāmā.
Nhóm Hai được chấm dứt.
“Catukkhattuṁ pañcakkhattuṁ,
vihārā upanikkhamiṁ;
Aladdhā cetaso santiṁ,
citte avasavattinī;
Tassā me aṭṭhamī ratti,
yato taṇhā samūhatā.
Bahūhi dukkhadhammehi,
appamādaratāya me;
Taṇhakkhayo anuppatto,
kataṁ buddhassa sāsanan”ti.
… Sāmā therī ….
Dukanipāto niṭṭhito.