Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có thầy, có đệ tử gần gũi, là khổ đối với đời sống cô độc. Không thầy, không đệ tử gần gũi, là an lạc đối với đời sống cô độc. Thế nào là có thầy, có đệ tử gần gũi, là khổ đối với đời sống cô độc? Duyên vào mắt thấy sắc, sanh ra các niệm tưởng ác bất thiện câu hữu với tham, nhuế, si. Nếu Tỳ-kheo nào thực hành pháp này, thì gọi là có thầy; nếu trụ vào bên cạnh đó thì gọi là đệ tử gần gũi. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy.
“Như vậy nói là có thầy, có đệ tử gần gũi, thì thường khổ đối với đời sống cô độc.
“Thế nào là không thầy, không đệ tử gần gũi, thường an lạc đối với đời sống cô độc? Duyên vào mắt thấy sắc, sanh ra niệm ác bất thiện câu hữu với tham, nhuế, si, mà Tỳ-kheo này không hành theo, đó gọi là không thầy. Nếu không nương vào đó mà trụ thì gọi là không đệ tử gần gũi. Đó gọi là không thầy, không đệ tử gần gũi, thường an lạc đối với đời sống cô độc.
“Nếu Tỳ-kheo nào, không thầy, không đệ tử gần gũi, thì Ta nói người này phước phạm hạnh. Vì sao? Tỳ-kheo không thầy, không đệ tử gần gũi, thì Tỳ-kheo ấy đã kiến lập phạm hạnh ở nơi Ta, có khả năng chân chánh diệt tận khổ, cứu cánh biên tế khổ.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給T 0057a17孤獨園。
爾時,世尊告諸比丘:「有師、有近住T 0057a18弟子,則苦獨住,無師、無近住弟子,則樂獨T 0057a19住。
「云何有師、有近住弟子,則苦獨住?緣眼、T 0057a20色,生惡不善覺,貪、恚、癡俱,若彼比丘行此T 0057a21法者,是名有師,若於此邊住者,是名近T 0057a22住弟子。耳、鼻、舌、身、意亦復如是。如是有師、T 0057a23有近住弟子,常苦獨住。
「云何無師、無近住T 0057a24弟子,常樂獨住?緣眼、色,生惡不善覺,貪、T 0057a25恚、癡俱,彼比丘不行,是名無師。不依彼T 0057a26住,是名無近住弟子。是名無師、無近住弟子,T 0057a27常樂獨住。若彼比丘無師、無近住弟子者,T 0057a28我說彼得梵行福。所以者何?無師、無近住弟T 0057a29子,比丘於我建立梵行,能正盡苦,究竟苦T 0057b01集。」
佛說此經已,諸比丘聞佛所說,歡喜奉T 0057b02行。
T 0057b03 SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying at Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove of Śrāvastī.
SC 2It was then that the Bhagavān addressed the monks, “Having a teacher and having a disciple who lives nearby makes living alone painful. Having no teacher and no disciple who lives nearby makes living alone pleasant.
SC 3“How does having a teacher or a disciple living nearby make living alone painful? Conditioned by the eye and forms, bad and unskillful feelings arise together with greed, anger, and delusion. If a monk practices this teaching, he’s said to have a teacher. If he abides on the edge of this, he’s said to have a disciple who lives nearby. The ear, nose, tongue, body, and mind are likewise. Thus, having a teacher and having a disciple living nearby makes living alone constant suffering.
SC 4“How does having no teacher and no disciple who lives nearby make living alone constant happiness? Conditioned by the eye and forms, bad and unskillful feelings arise together with greed, anger, and delusion. That monk who doesn’t practice this is said to have no teacher. Not depending on that abode, he’s said to have no disciple living nearby. This is called having no teacher and no disciple living nearby, which makes living alone constant happiness.
SC 5“I say he attains the merits of the religious life. Why is that? Having no teacher and no disciple living nearby, a monk establishes my religious practice. He’s able to correctly end suffering and reach the ultimate end of suffering.”
SC 6After the Buddha spoke this sūtra, the monks who heard what he taught rejoiced and accepted it.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có thầy, có đệ tử gần gũi, là khổ đối với đời sống cô độc. Không thầy, không đệ tử gần gũi, là an lạc đối với đời sống cô độc. Thế nào là có thầy, có đệ tử gần gũi, là khổ đối với đời sống cô độc? Duyên vào mắt thấy sắc, sanh ra các niệm tưởng ác bất thiện câu hữu với tham, nhuế, si. Nếu Tỳ-kheo nào thực hành pháp này, thì gọi là có thầy; nếu trụ vào bên cạnh đó thì gọi là đệ tử gần gũi. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy.
“Như vậy nói là có thầy, có đệ tử gần gũi, thì thường khổ đối với đời sống cô độc.
“Thế nào là không thầy, không đệ tử gần gũi, thường an lạc đối với đời sống cô độc? Duyên vào mắt thấy sắc, sanh ra niệm ác bất thiện câu hữu với tham, nhuế, si, mà Tỳ-kheo này không hành theo, đó gọi là không thầy. Nếu không nương vào đó mà trụ thì gọi là không đệ tử gần gũi. Đó gọi là không thầy, không đệ tử gần gũi, thường an lạc đối với đời sống cô độc.
“Nếu Tỳ-kheo nào, không thầy, không đệ tử gần gũi, thì Ta nói người này phước phạm hạnh. Vì sao? Tỳ-kheo không thầy, không đệ tử gần gũi, thì Tỳ-kheo ấy đã kiến lập phạm hạnh ở nơi Ta, có khả năng chân chánh diệt tận khổ, cứu cánh biên tế khổ.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha was staying at Anāthapiṇḍada’s Park in Jeta’s Grove of Śrāvastī.
SC 2It was then that the Bhagavān addressed the monks, “Having a teacher and having a disciple who lives nearby makes living alone painful. Having no teacher and no disciple who lives nearby makes living alone pleasant.
SC 3“How does having a teacher or a disciple living nearby make living alone painful? Conditioned by the eye and forms, bad and unskillful feelings arise together with greed, anger, and delusion. If a monk practices this teaching, he’s said to have a teacher. If he abides on the edge of this, he’s said to have a disciple who lives nearby. The ear, nose, tongue, body, and mind are likewise. Thus, having a teacher and having a disciple living nearby makes living alone constant suffering.
SC 4“How does having no teacher and no disciple who lives nearby make living alone constant happiness? Conditioned by the eye and forms, bad and unskillful feelings arise together with greed, anger, and delusion. That monk who doesn’t practice this is said to have no teacher. Not depending on that abode, he’s said to have no disciple living nearby. This is called having no teacher and no disciple living nearby, which makes living alone constant happiness.
SC 5“I say he attains the merits of the religious life. Why is that? Having no teacher and no disciple living nearby, a monk establishes my religious practice. He’s able to correctly end suffering and reach the ultimate end of suffering.”
SC 6After the Buddha spoke this sūtra, the monks who heard what he taught rejoiced and accepted it.