Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa101-200
SA186 Kinh 186. chỉ
SA101 Kinh 101. phật (2) SA102 Kinh 102. lãnh quần đặc SA103 Kinh 103. sai-ma SA104 Kinh 104. diệm-ma-ca SA105 Kinh 105. tiên-ni SA106 Kinh 106. a-nậu-la SA107 Kinh 107. trưởng giả SA108 Kinh 108. tây SA109 Kinh 109. mao đoan SA110 Kinh 110. tát-giá SA111 Kinh 111. hữu lưu SA112 Kinh 112. đoạn tri SA113 Kinh 113. đoạn sắc khổ SA114 Kinh 114. tri khổ SA115 Kinh 115. đoạn ưu khổ SA116 Kinh 116. ngã tận SA117 Kinh 117. đoạn hữu lậu SA118 Kinh 118. tham nhuế si SA119 Kinh 119. tận dục ái hỷ SA120 Kinh 120. ma (1) SA121 Kinh 121. tử diệt SA122 Kinh 122. chúng sanh SA123 Kinh 123. hữu thân SA124 Kinh 124. ma (2) SA125 Kinh 125. ma pháp SA126 Kinh 126. tử pháp SA127 Kinh 127. phi ngã phi ngã sở SA128 Kinh 128. đoạn pháp (1) SA129 Kinh 129. đoạn pháp (2) SA130 Kinh 130. cầu đại sư (1) SA131 Kinh 131. tập cận SA132 Kinh 132. bất tập cận SA133 Kinh 133. sanh tử lưu chuyển SA134 Kinh 134. hồ nghi đoạn (1) SA135 Kinh 135. hồ nghi đoạn (2) SA136 Kinh 136. sanh tử lưu chuyển SA137 KINH 137 SA138 KINH 138 SA139 Kinh 139. ưu não sanh khởi SA140 KINH 140 SA141 KINH 141 SA142 Kinh 142. ngã ngã sở SA143 KINH 143–144 SA144 KINH 143–144 SA145 Kinh 145. hữu lậu chướng ngại SA146 Kinh 146. tam thọ SA147 Kinh 147. tam khổ SA148 Kinh 148. thế bát pháp SA149 Kinh 149. ngã thắng SA150 Kinh 150. tha thắng SA151 Kinh 151. vô thắng SA152 Kinh 152. hữu ngã SA153 Kinh 153. bất nhị SA154 Kinh 154. vô quả SA155 Kinh 155. vô lực SA156 Kinh 156. tử hậu đoạn hoại SA157 Kinh 157. vô nhân vô duyên (1) SA158 Kinh 158. vô nhân vô duyên (2) SA159 Kinh 159. vô nhân vô duyên (3) SA160 Kinh 160. vô nhân vô duyên (4) SA161 Kinh 161. thất thân SA162 Kinh 162. tác giáo SA163 Kinh 163. sanh tử định lượng SA164 Kinh 164. phong SA165 Kinh 165. đại phạm SA166 Kinh 166. sắc thị ngã (1) SA167 Kinh 167. sắc thị ngã (2) SA168 Kinh 168. thế gian thường SA169 Kinh 169. thế gian ngã thường SA170 Kinh 170. ngộ lạc niết-bàn SA171 Kinh 171. ngã chánh đoạn SA172 Kinh 172. đương đoạn SA173 Kinh 173. quá khứ đương đoạn SA174 Kinh 174. cầu đại sư (2) SA175 Kinh 175. cứu đầu nhiên thí SA176 Kinh 176. thân quán trụ (1) SA177 Kinh 177. thân quán trụ (2) SA178 Kinh 178. đoạn ác bất thiện pháp SA179 Kinh 179. dục định SA180 Kinh 180. tín căn SA181 Kinh 181. tín lực SA182 Kinh 182. niệm giác phần SA183 Kinh 183. chánh kiến SA184 Kinh 184. khổ tập tận đạo SA185 Kinh 185. vô tham pháp cú SA186 Kinh 186. chỉ SA187 Kinh 187. tham dục SA188 Kinh 188. ly hỷ tham SA189 Kinh 189. ly dục tham SA190 Kinh 190. tri (1) SA191 Kinh 191. tri (2) SA192 Kinh 192. bất ly dục (1) SA193 Kinh 193. bất ly dục (2) SA194 Kinh 194. sanh hỷ SA195 Kinh 195. vô thường (1) SA196 Kinh 196. vô thường (2) SA197 Kinh 197. thị hiện SA198 Kinh 198. la-hầu-la (1) SA199 Kinh 199. la-hầu-la (2) SA200 Kinh 200. la-hầu-la (3)
SA186

Kinh 186. chỉ

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Như có người bị lửa đốt đầu và áo, phải làm sao để cứu?”

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

‘Bạch Thế Tôn, phải gấp rút, nhanh chóng, nỗ lực tìm cách để dập tắt nó.”

Phật bảo các Tỳ-kheo:

“Đầu và áo bị đốt cháy còn có thể tạm quên đi được, còn lửa vô thường mà hừng hực thì cần phải đoạn trừ tận diệt. Vì để đoạn trừ lửa vô thường, nên tu chỉ. Vậy để đoạn trừ những pháp vô thường nào phải tu chỉ? Đoạn trừ sắc vô thường nên tu chỉ; đoạn trừ thọ, tưởng, hành, thức vô thường nên tu chỉ.”

Chi tiết như trên (kinh 175)… cho đến:

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

Như kinh dạy về vô thường, quá khứ là vô thường, vị lai là vô thường, hiện tại là vô thường; quá khứ, vị lai là vô thường; quá khứ, hiện tại là vô thường; vị lai, hiện tại là vô thường; quá khứ, vị lai, hiện tại là vô thường, tám kinh cũng dạy như trên vậy.

Như tám kinh dạy về tu chỉ, tám kinh dạy về tu quán cũng dạy như trên vậy.

Như mười sáu kinh dạy về nên đoạn trừ, trong mỗi một kinh của mười sáu kinh dạy về nên hiểu biết, nên nhàm chán, nên dứt trừ, nên dừng nghỉ, nên buông xả, nên diệt tận, nên dứt bặt cũng dạy như trên vậy.

“Những gì thuộc về sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng chẳng phải ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau, phải biết như thật và đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy. Đa văn Thánh đệ tử phải chánh quán như vậy, đối với sắc sẽ sanh ra nhàm chán, đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng sanh ra nhàm chán. Khi đã nhàm chán rồi thì sẽ không thích, vì đã không thích nên giải thoát, giải thoát tri kiến: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa’.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật đã dạy, vui mừng thực hành theo.

Như kinh dạy về vô thường, cũng vậy đối với dao động, chuyển xoay (toàn chuyển), lao hạch, phá hoại, bệnh dật dờ, hủ bại, nguy đốn, không thường, không an, biến đổi, khổ não, tai hoạn, ma tà, ma thế, ma khí, như bọt nước, như bong bóng, như cây chuối, như huyễn; yếu kém, tham đắm, đánh giết, đao kiếm, ganh ghét, tàn sát nhau, tổn giảm, hao suy, trói buộc, đánh đập, ghẻ chóc, ung nhọt, gai nhọn, phiền não, trách phạt, che giấu, chỗ tai hại, buồn rầu, ác tri thức; khổ, không, chẳng phải ngã, chẳng phải những gì thuộc về ngã, oan gia, xích trôi, chẳng phải nghĩa, chẳng phải an ủi, nhiệt não, không bóng mát, không hòn đảo, không che, không nương tựa, không bảo vệ; pháp sanh, pháp già, pháp bệnh, pháp chết, pháp ưu bi, pháp khổ não, pháp không sức, pháp yếu kém, pháp không thể muốn, pháp dụ dẫn, pháp nuôi dưỡng, có pháp khổ, pháp có giết, pháp có não, pháp có nhiệt, pháp có tướng, pháp có thổi, pháp có giữ, pháp thâm hiểm, pháp khó khăn, pháp bất chánh, pháp hung bạo, pháp có tham, pháp có nhuế (sân), pháp có si, pháp không trụ, pháp đốt cháy, pháp chướng ngại, pháp tai ương, pháp tập hợp, pháp tiêu diệt, pháp đống xương, pháp cục thịt, pháp cầm đuốc, pháp hầm lửa, như rắn độc, như mộng, như đồ vay mượn, như trái cây, như kẻ mổ trâu (đồ tể), như kẻ giết người, như sương dính, như nước sâu, như dòng chảy siết, như sợi dệt, như bánh xe đạp nước, như gậy sào, như bình độc, như thân độc, như hoa độc, như trái độc, phiền não xung động cũng như vậy.

Cho đến: đoạn trừ quá khứ, vị lai, hiện tại là vô thường, phải tu chỉ quán. Vậy muốn đoạn trừ những pháp nào trong quá khứ, vị lai, hiện tại là vô thường cho đến dứt bặt, để phải tu chỉ quán? Vì muốn đoạn trừ sắc quá khứ, vị lai, hiện tại là vô thường, cho đến khi dứt bặt nên tu chỉ quán. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy. Cho nên những gì thuộc về sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng chẳng phải là ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau phải biết như thật. Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.

“Đa văn Thánh đệ tử phải quán như vậy, đối với sắc sẽ sanh ra nhàm chán và đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng sanh ra nhàm chán. Vì đã nhàm chán nên sẽ không thích, vì đã không thích nên sẽ được giải thoát, giải thoát tri kiến: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật đã dạy, vui mừng thực hành theo.

⏳ Đang tải SA187...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc