Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa101-200
SA200 Kinh 200. la-hầu-la (3)
SA101 Kinh 101. phật (2) SA102 Kinh 102. lãnh quần đặc SA103 Kinh 103. sai-ma SA104 Kinh 104. diệm-ma-ca SA105 Kinh 105. tiên-ni SA106 Kinh 106. a-nậu-la SA107 Kinh 107. trưởng giả SA108 Kinh 108. tây SA109 Kinh 109. mao đoan SA110 Kinh 110. tát-giá SA111 Kinh 111. hữu lưu SA112 Kinh 112. đoạn tri SA113 Kinh 113. đoạn sắc khổ SA114 Kinh 114. tri khổ SA115 Kinh 115. đoạn ưu khổ SA116 Kinh 116. ngã tận SA117 Kinh 117. đoạn hữu lậu SA118 Kinh 118. tham nhuế si SA119 Kinh 119. tận dục ái hỷ SA120 Kinh 120. ma (1) SA121 Kinh 121. tử diệt SA122 Kinh 122. chúng sanh SA123 Kinh 123. hữu thân SA124 Kinh 124. ma (2) SA125 Kinh 125. ma pháp SA126 Kinh 126. tử pháp SA127 Kinh 127. phi ngã phi ngã sở SA128 Kinh 128. đoạn pháp (1) SA129 Kinh 129. đoạn pháp (2) SA130 Kinh 130. cầu đại sư (1) SA131 Kinh 131. tập cận SA132 Kinh 132. bất tập cận SA133 Kinh 133. sanh tử lưu chuyển SA134 Kinh 134. hồ nghi đoạn (1) SA135 Kinh 135. hồ nghi đoạn (2) SA136 Kinh 136. sanh tử lưu chuyển SA137 KINH 137 SA138 KINH 138 SA139 Kinh 139. ưu não sanh khởi SA140 KINH 140 SA141 KINH 141 SA142 Kinh 142. ngã ngã sở SA143 KINH 143–144 SA144 KINH 143–144 SA145 Kinh 145. hữu lậu chướng ngại SA146 Kinh 146. tam thọ SA147 Kinh 147. tam khổ SA148 Kinh 148. thế bát pháp SA149 Kinh 149. ngã thắng SA150 Kinh 150. tha thắng SA151 Kinh 151. vô thắng SA152 Kinh 152. hữu ngã SA153 Kinh 153. bất nhị SA154 Kinh 154. vô quả SA155 Kinh 155. vô lực SA156 Kinh 156. tử hậu đoạn hoại SA157 Kinh 157. vô nhân vô duyên (1) SA158 Kinh 158. vô nhân vô duyên (2) SA159 Kinh 159. vô nhân vô duyên (3) SA160 Kinh 160. vô nhân vô duyên (4) SA161 Kinh 161. thất thân SA162 Kinh 162. tác giáo SA163 Kinh 163. sanh tử định lượng SA164 Kinh 164. phong SA165 Kinh 165. đại phạm SA166 Kinh 166. sắc thị ngã (1) SA167 Kinh 167. sắc thị ngã (2) SA168 Kinh 168. thế gian thường SA169 Kinh 169. thế gian ngã thường SA170 Kinh 170. ngộ lạc niết-bàn SA171 Kinh 171. ngã chánh đoạn SA172 Kinh 172. đương đoạn SA173 Kinh 173. quá khứ đương đoạn SA174 Kinh 174. cầu đại sư (2) SA175 Kinh 175. cứu đầu nhiên thí SA176 Kinh 176. thân quán trụ (1) SA177 Kinh 177. thân quán trụ (2) SA178 Kinh 178. đoạn ác bất thiện pháp SA179 Kinh 179. dục định SA180 Kinh 180. tín căn SA181 Kinh 181. tín lực SA182 Kinh 182. niệm giác phần SA183 Kinh 183. chánh kiến SA184 Kinh 184. khổ tập tận đạo SA185 Kinh 185. vô tham pháp cú SA186 Kinh 186. chỉ SA187 Kinh 187. tham dục SA188 Kinh 188. ly hỷ tham SA189 Kinh 189. ly dục tham SA190 Kinh 190. tri (1) SA191 Kinh 191. tri (2) SA192 Kinh 192. bất ly dục (1) SA193 Kinh 193. bất ly dục (2) SA194 Kinh 194. sanh hỷ SA195 Kinh 195. vô thường (1) SA196 Kinh 196. vô thường (2) SA197 Kinh 197. thị hiện SA198 Kinh 198. la-hầu-la (1) SA199 Kinh 199. la-hầu-la (2) SA200 Kinh 200. la-hầu-la (3)
SA200

Kinh 200. la-hầu-la (3)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả La-hầu-la đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:

“Lành thay, Thế Tôn! Xin vì con mà nói pháp. Sau khi con nghe pháp, một mình con ở nơi thanh vắng, chuyên tinh tư duy, không buông lung. Sau khi sống một mình ở nơi thanh vắng, chuyên tinh tư duy, sống không buông lung, con sẽ tư duy về mục đích mà một thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc, chánh tín xuất gia học đạo, sống không gia đình, tu trì phạm hạnh, ngay trong đời này, tự tri tự tác chứng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”

Bấy giờ, Đức Thế Tôn xét thấy tâm của La-hầu-la tuệ giải thoát chưa thuần thục, chưa có thể nhận lãnh pháp tăng thượng được, nên hỏi La-hầu-la:

“Ngươi đã từng truyền dạy năm thọ ấm cho người chưa?”

La-hầu-la bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, chưa.”

Phật bảo La-hầu-la:

“Ngươi nên vì người khác mà diễn nói năm thọ ấm.”

Khi La-hầu-la nghe lời dạy của Phật rồi, sau đó vì người khác diễn nói về năm thọ ấm. Nói xong trở lại chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui qua một bên, bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn con đã vì người khác nói về năm thọ ấm rồi, xin Thế Tôn vì con mà nói pháp. Sau khi con nghe pháp xong rồi sẽ ở một mình chuyên tinh suy nghĩ, sống không buông lung và… cho đến ‘tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”

Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại xét thấy tâm của La-hầu-la Tuệ giải thoát chưa thuần thục, chưa có thể nhận lãnh pháp tăng thượng được, nên hỏi La-hầu-la:

“Ngươi đã vì người khác nói về sáu nhập xứ chưa?”

La-hầu-la bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, chưa.”

Phật bảo La-hầu-la:

“Ngươi nên vì người khác diễn nói về sáu nhập xứ.”

Rồi, vào một lúc khác, La-hầu-la lại diễn nói sáu nhập xứ cho người khác nghe. Sau khi nói sáu nhập xứ xong, đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi đứng lui qua một bên, bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, con đã vì người khác mà diễn nói sáu nhập xứ rồi. Xin Đức Thế Tôn vì con mà nói pháp. Sau khi con nghe pháp xong sẽ ở một mình nơi vắng vẻ, chuyên tinh suy nghĩ, sống không buông lung, … cho đến ‘tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”

Bấy giờ, Đức Thế Tôn xét thấy tâm của La-hầu-la tuệ giải thoát chưa thuần thục, chưa có thể nhận lãnh pháp tăng thượng được, nên hỏi La-hầu-la:

“Ngươi đã vì người khác nói pháp Ni-đà-na chưa?”

La-hầu-la bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, chưa.”

Phật bảo La-hầu-la:

“Ngươi nên vì người khác mà diễn nói pháp Ni-đà-na đi.”

Rồi, vào môt lúc khác, La-hầu-la lại vì người khác nói đầy đủ pháp Ni-đà-na xong, đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi đứng lui sang một bên, bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn vì con mà nói pháp, sau khi con nghe pháp xong, sẽ ở một mình nơi chỗ vắng chuyên tinh suy nghĩ, sống không buông lung, … cho đến ‘tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”

Bấy giờ, Đức Thế Tôn xét thấy tâm của La-hầu-la tuệ giải thoát vẫn chưa thuần thục, … cho đến bảo La-hầu-la:

“Ngươi nên đối với những pháp đã nói ở trên, ở một mình nơi vắng vẻ chuyên tinh suy nghĩ, mà quán sát nghĩa lý của chúng.”

Bấy giờ, La-hầu-la vâng lời Phật dạy, như pháp đã nói, như pháp đã được nghe, suy nghĩ cân nhắc, quán sát nghĩa lý của chúng, tự nghĩ: “Các pháp này, tất cả đều thuận hướng Niết-bàn, lưu nhập Niết-bàn, cuối cùng an trụ Niết-bàn.

Rồi, một lúc khác, La-hầu-la đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi lui đứng sang một bên, bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, đối với pháp đã được nói, pháp con đã được nghe như trên, con đã ở một mình nơi vắng vẻ, tư duy cân nhắc và quán sát nghĩa lý của chúng, thì biết những pháp này tất cả đều thuận hướng Niết-bàn, lưu nhập Niết-bàn, cuối cùng an trụ Niết-bàn.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn xét thấy tâm của La-hầu-la tuệ giải thoát đã được thuần thục, có thể nhận lãnh được pháp tăng thượng, nên bảo La-hầu-la:

“Tất cả đều vô thường. Những pháp nào là vô thường? Mắt là vô thường. Sắc, nhãn thức, nhãn xúc v.v… đều vô thường (chi tiết như các kinh trước).”

Tôn giả La-hầu-la sau khi nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, làm lễ mà lui.

Sau khi La-hầu-la đã vâng theo lời Phật dạy rồi, một mình ở nơi vắng vẻ, sống không buông lung, chuyên tinh tư duy về mục đích mà một thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chánh tín xuất gia học đạo, sống không gia đình, chuyên tu phạm hạnh cho đến… ngay trong đời này, tự tri tự tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Thành bậc A-la-hán, tâm khéo giải thoát.

Phật nói kinh này xong, La-hầu-la nghe những gì Đức Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA201...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc