Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng Trung A-hàm
MA130 130. Kinh giáo
MA1 1. Kinh thiện pháp MA2 2. Kinh trú độ thọ MA3 3. Kinh thành dụ MA4 4. Kinh thủy dụ(1) MA5 5. Kinh mộc tích dụ MA6 6. Kinh thiện nhân vãng MA7 7. Kinh thế gian phước MA8 8. Kinh thất nhật MA9 9. Kinh thất xa MA10 10. Kinh lậu tận MA11 11. Kinh diêm dụ MA12 12. Kinh hòa-phá MA13 13. Kinh độ MA14 14. Kinh la-hầu-la MA15 15. Kinh tư MA16 16. Kinh già-lam MA17 17. Kinh già-di-ni MA18 18. Kinh sư tử MA19 19. Kinh ni-kiền MA20 20. Kinh ba-la-lao MA21 21. Kinh đẳng tâm MA22 22. Kinh thành tựu giới MA23 23. Kinh trí MA24 24. Kinh sư tử hống MA25 25. Kinh thủy dụ (2) MA26 26. Kinh cù-ni-sư MA27 27. Kinh phạm chí đà-nhiên MA28 28. Kinh giáo hóa bịnh MA29 29. Kinh đại câu-hi-la MA30 30. Kinh tượng tích dụ MA31 31. Kinh phân biệt thánh đế MA32 32. Kinh vị tằng hữu pháp MA33 33. Kinh thị giả MA34 34. Kinh bạc-câu-la MA35 35. Kinh a-tu-la MA36 36. Kinh địa động MA37 37. Kinh chiêm-ba MA38 ma38 MA39 ma39 MA40 ma40 MA41 ma41 MA42 42. Kinh hà nghĩa MA43 43. Kinh bất tư MA44 44. Kinh niệm MA45 ma45 MA46 ma46 MA47 ma47 MA48 ma48 MA49 ma49 MA50 ma50 MA51 51. Kinh bổn tế MA52 ma52 MA53 ma53 MA54 54. Kinh tận trí MA55 55. Kinh niết-bàn MA56 56. Kinh di-hê MA57 57. Kinh tức vị tỳ-kheo thuyết MA58 58. Kinh thất bảo MA59 59. Kinh tam thập nhị tướng MA60 60. Kinh tứ châu MA61 61. Kinh ngưu phấn dụ MA62 62. Kinh tần-tì-sa-la vương nghinh phật MA63 63. Kinh tì-bà-lăng-kỳ MA64 64. Kinh thiên sứ MA65 65. Kinh ô điểu dụ MA66 66. Kinh thuyết bổn MA67 67. Kinh đại thiên nại lâm MA68 68. Kinh đại thiện kiến vương MA69 69. Kinh tam thập dụ MA70 70. Kinh chuyển luân vương MA71 71. Kinh tì-tứ MA72 72. Kinh trường thọ vương bổn khởi MA73 73. Kinh thiên MA74 74. Kinh bát niệm MA75 75. Kinh tịnh bất động đạo MA76 76. Kinh úc-già-chi-la MA77 77. Kinh sa-kê-đế tam tộc tánh tử MA78 78. Kinh phạm thiên thỉnh phật MA79 79. Kinh hữu thắng thiên MA80 80. Kinh ca-hi-na MA81 81. Kinh niệm thân MA82 82. Kinh chi-ly-di-lê MA83 83. Kinh trưởng lão thượng tôn thụy miên MA84 84. Kinh vô thích MA85 85. Kinh chân nhân MA86 86. Kinh thuyết xứ MA87 87. Kinh uế phẩm MA88 88. Kinh cầu pháp MA89 89. Kinh tỳ-kheo thỉnh MA90 90. Kinh tri pháp MA91 91. Kinh chu-na vấn kiến MA92 92. Kinh thanh bạch liên hoa dụ MA93 93. Kinh thủy tịnh phạm chí MA94 94. Kinh hắc tỳ-kheo MA95 95. Kinh trụ pháp MA96 96. Kinh vô MA97 97. Kinh đại nhân MA98 98. Kinh niệm xứ MA99 ma99 MA100 ma100 MA101 101. Kinh tăng thượng tâm MA102 102. Kinh niệm MA103 103. Kinh sư tử hống MA104 104. Kinh ưu-đàm-bà-la MA105 105. Kinh nguyện MA106 106. Kinh tưởng MA107 ma107 MA108 ma108 MA109 ma109 MA110 ma110 MA111 111. Kinh đạt phạm hạnh MA112 112. Kinh a-nô-ba MA113 113. Kinh chư pháp bổn MA114 114. Kinh ưu-đà-la MA115 115. Kinh mật hoàn dụ MA116 116. Kinh cù-đàm-di MA117 117. Kinh nhu nhuyến MA118 118. Kinh long tượng MA119 119. Kinh thuyết xứ MA120 120. Kinh thuyết vô thường MA121 121. Kinh thỉnh tỉnh MA122 122. Kinh chiêm-ba MA123 123. Kinh sa-môn nhị thập ức MA124 124. Kinh bát nạn MA125 125. Kinh bần cùng MA126 126. Kinh hành dục MA127 127. Kinh phước điền MA128 128. Kinh ưu-bà-tắc MA129 129. Kinh oán gia MA130 130. Kinh giáo MA131 131. Kinh hàng ma MA132 132. Kinh lại-tra-hòa-la MA133 133. Kinh ưu-ba-ly MA134 134. Kinh thích vấn MA135 135. Kinh thiện sanh MA136 136. Kinh thương nhân cầu tài MA137 137. Kinh thế gian MA138 138. Kinh phước MA139 139. Kinh tức chỉ đạo MA140 140. Kinh chí biên MA141 141. Kinh dụ MA142 142. Kinh vũ thế MA143 143. Kinh thương-ca-la MA144 144. Kinh toán số mục-kiền-liên MA145 145. Kinh cù-mặc mục-kiền-liên MA146 146. Kinh tượng tích dụ MA147 147. Kinh văn đức MA148 148. Kinh hà khổ MA149 149. Kinh hà dục MA150 150. Kinh uất-sấu-ca-la MA151 151. Kinh phạm chí a-nhiếp-hòa MA152 152. Kinh anh vũ (1) MA153 153. Kinh man-nhàn-đề MA154 154. Kinh bà-la-bà đường MA155 155. Kinh tu-đạt-đa MA156 156. Kinh phạm ba-la-diên MA157 157. Kinh hoàng lô viên MA158 158. Kinh đầu-na MA159 159. Kinh a-già-la-ha-na MA160 160. Kinh a-lan-na MA161 161. Kinh phạm-ma MA162 162. Kinh phân biệt lục giới MA163 163. Kinh phân biệt lục xứ MA164 164. Kinh phân biệt quán pháp MA165 165. Kinh ôn tuyền lâm thiên MA166 166. Kinh thích trung thiền thất tôn MA167 167. Kinh a-nan thuyết MA168 168. Kinh ý hành MA169 169. Kinh câu-lâu-sấu vô tránh MA170 170. Kinh anh vũ (2) MA171 171. Kinh phân biệt đại nghiệp MA172 172. Kinh tâm MA173 173. Kinh phù-di MA174 ma174 MA175 ma175 MA176 176. Kinh hành thiền MA177 177. Kinh thuyết MA178 178. Kinh lạp sư MA179 179. Kinh ngũ chi vật chủ MA180 180. Kinh cù-đàm-di MA181 181. Kinh đa giới MA182 ma182 MA183 ma183 MA184 ma184 MA185 ma185 MA186 186. Kinh cầu giải MA187 187. Kinh thuyết trí MA188 188. Kinh a-di-na MA189 189. Kinh thánh đạo MA190 190. Kinh tiểu không MA191 191. Kinh đại không MA192 192. Kinh ca-lâu-ô-đà-di MA193 193. Kinh mâu-lê-phá-quần-na MA194 194. Kinh bạt-đà-hòa-lợi MA195 195. Kinh a-thấp-bối MA196 196. Kinh châu-na MA197 197. Kinh ưu-ba-ly MA198 198. Kinh điều ngự địa MA199 199. Kinh si tuệ địa MA200 200. Kinh a-lê-tra MA201 201. Kinh trà-đế MA202 202. Kinh trì trai MA203 203. Kinh bô-đa-lị MA204 204. Kinh la-ma MA205 205. Kinh ngũ hạ phần kết MA206 206. Kinh tâm uế MA207 ma207 MA208 ma208 MA209 209. Kinh tì-ma-na-tu MA210 210. Kinh tỳ-kheo-ni pháp lạc MA211 211. Kinh đại câu-hy-la MA212 212. Kinh nhất thiết trí MA213 213. Kinh pháp trang nghiêm MA214 214. Kinh tì-ha-đề MA215 215. Kinh đệ nhất đắc MA216 216. Kinh ái sanh MA217 217. Kinh bát thành MA218 ma218 MA219 ma219 MA220 220. Kinh kiến MA221 221. Kinh tiễn dụ MA222 222. Kinh lệ
MA130

130. Kinh giáo

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ, Tôn giả Đàm-di, vị tôn trưởng địa phương làm chủ Phật-đồ, được mọi người tôn sùng, tánh tình hung bạo, nóng nảy, rất cộc cằn thô lỗ, hay mắng nhiếc các vị Tỳ-kheo. Vì vậy, các vị Tỳ-kheo địa phương đều bỏ đi, không muốn sống ở đó. Các Ưu-bà-tắc địa phương thấy các vị Tỳ-kheo địa phương đều bỏ đi, không muốn ở đó, liền nghĩ rằng: “Các vị Tỳ-kheo địa phương này vì sao lại bỏ đi, không muốn sống ở đây?” Rồi các vị Ưu-bà-tắc địa phương nghe được rằng: “Tôn giả Đàm-di, vị tôn trưởng địa phương, làm chủ Phật-đồ, được mọi người tôn sùng, mà tánh tình hung bạo, nóng nảy, rất cộc cằn thô lỗ, hay mắng nhiếc các Tỳ-kheo. Vì vậy các Tỳ-kheo địa phương đều bỏ đi, không muốn sống ở đó.”

Các vị Ưu-bà-tắc nghe việc ấy rồi, liền cùng nhau kéo đến Tôn giả Đàm-di, xua đuổi ông ra khỏi các chùa địa phương. Bấy giờ Tôn giả Đàm-di bị các vị Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi ra khỏi các tinh xá địa phương, liền vấn y, mang bát du hành đến nước Xá-vệ, dần dà đến vườn Cấp Cô Độc, rừng Thắng Lâm, nước Xá-vệ. Rồi Tôn giả Đàm-di đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân Ngài, ngồi sang một bên mà bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, con đối với Ưu-bà-tắc địa phương không có điều gì xấu xa, chẳng nói điều gì, không xúc phạm đến ai, nhưng các Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi con ra khỏi các chùa địa phương.”

Khi đó, Đức Thế Tôn bảo rằng:

“Thôi đủ rồi, này Đàm-di, nói điều đó làmg gì!”

Tôn giả Đàm-di chắp tay hướng Phật, bạch lại một lần nữa rằng:

“Bạch Thế Tôn, con đối với Ưu-bà-tắc địa phương không có điều gì xấu xa, chẳng nói điều gì, không xúc phạm đến ai, nhưng các Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi con ra khỏi các tinh xá địa phương.”

Đức Thế Tôn cũng lần thứ hai bảo rằng:

“Đàm-di, thuở xưa, ở châu Diêm-phù này có các thương nhân đi thuyền ra biển, mang theo con ó tìm bờ. Bọn người ấy ra biển chưa bao xa, họ thả con ó tìm bờ. Nếu con ó tìm bờ đến được bờ của biển cả, nó sẽ vĩnh viễn không trở lại thuyền. Nếu con ó tìm bờ không đến được bờ của biển cả, nó sẽ trở lại thuyền. Ngươi cũng vậy, này Đàm-di, bởi vì ngươi bị các Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi ra khỏi các chùa địa phương nên ngươi mới trở về chỗ Ta. Thôi, đủ rồi Đàm-di, nói thêm điều ấy làm gì!”

Tôn giả Đàm-di bạch lại lần thứ ba:

“Bạch Thế Tôn, con đối với Ưu-bà-tắc địa phương không có điều gì xấu xa, chẳng nói điều gì, không xúc phạm đến ai, nhưng các Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi con ra khỏi các tinh xá địa phương.”

Đức Thế Tôn cũng lại lần thứ ba bảo rằng:

“Đàm-di, ngươi trụ trong Sa-môn pháp mà lại bị các Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi ra khỏi các tinh xá địa phương sao?”

Lúc đó Tôn giả Đàm-di liền rời chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng Phật, bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là Sa-môn trụ trong pháp Sa-môn?”

Đức Thế Tôn dạy:

“Này Đàm-di, thuở xưa, khi con người sống đến tám vạn tuổi. Đàm-di, khi con người sống đến tám vạn tuổi, châu Diêm-phù này cực kỳ giàu sang hạnh phúc, dân cư đông đúc, thôn ấp gần nhau bằng khoảng một con gà bay.

“Khi con người sống đến tám vạn tuổi, con gái đến năm trăm tuổi mới lấy chồng. Đàm-di, khi con người sống đến tám vạn tuổi, chỉ có các bệnh như vầy: đại tiện, tiểu tiện, lòng dục, ăn uống và già.

“Đàm-di, khi con người sống đến tám vạn tuổi, có một vị vua tên là Cao-la-bà, thông minh trí tuệ, làm Chuyển luân vương, có bốn loại binh chủng chỉnh trị thiên hạ; là Pháp vương hành theo chánh pháp, thành tựu bảy báu. Bảy báu là bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, tướng quân báu; đó là bảy báu. Có đủ một ngàn người con, tướng mạo đoan chánh, dũng mãnh vô úy, có thể khuất phục mọi kẻ địch. Vua ấy thống lãnh tất cả cõi đất đai cho đến biển cả, không cai trị bằng dao gậy mà chỉ bằng chánh pháp trị hóa, khiến được an ổn.

“Đàm-di, vua Cao-la-bà có một gốc cây tên là Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương. Đàm-di, Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương có năm cành. Cành thứ nhất dành cho vua và hoàng hậu ăn. Cành thứ nhì dành cho thái tử và các quan ăn. Cành thứ ba dành cho nhân dân trong nước ăn. Cành thứ tư dành cho Sa-môn, Bà-la-môn ăn. Cành thứ năm dành cho cầm thú ăn. Đàm-di, quả của cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương lớn bằng cái hủ hai thăng, mùi vị như mật nguyên chất. Đàm-di, quả Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương không ai canh giữ mà cũng chẳng ai trộm cắp. Về sau có một người đói khát gầy còm, nhan sắc tiều tụy, muốn được ăn quả, nó đến cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương ăn quả rồi bẻ gãy cành cây hái quả đem về. Trên cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương có một vị trời nương ở đó. Ông ấy nghĩ rằng: ‘Lạ thay, người ở châu Diêm-phù vô ân, không biết báo đáp. Vì sao? Vì nó ăn quả nơi cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương rồi bẻ gãy cành cây, hái quả đem về. Mong cho cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương không có quả, không sanh quả nữa!’ Tức thì cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương không có quả, cũng không sanh quả.

“Rồi lại có một người đói khát, gầy còm, nhan sắc tiều tụy, muốn được ăn quả, đi đến cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương, thấy cây không có quả, cũng không sanh quả, người ấy tức thì đi đến vua Cao-la-bà tâu rằng: ‘Tâu Thiên vương, nên biết, cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương không có quả, cũng không sanh quả nữa’.

“Vua Cao-la-bà nghe xong, trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi cánh tay biến khỏi Câu-lâu-sấu, đến cõi Tam thập tam thiên, đứng trước Thiên Đế Thích mà tâu rằng: ‘Tâu Câu-dực nên biết, cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương không có quả, cũng không sanh quả nữa. Khi đó, Thiên đế Thích và vua Cao-la-bà trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi cánh tay biến khỏi cõi Tam thập tam thiên, đến nước Câu-lâu-sấu, cách cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương đứng lại. Thiên đế Thích thực hiện như ý túc như vậy, bằng như ý túc như vậy, hóa làm nước lớn, gió bão và mưa to. Do nước lớn, gió bão và mưa to, cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương bị tróc gốc ngã đổ.

“Lúc đó có vị trời sống trên cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương nhận thấy như vậy mới buồn khổ, sầu thương, khóc lóc chảy nước mắt, đứng trước mặt Thiên đế Thích. Thiên đế Thích hỏi, ‘Thiên, vì lẽ gì mà ông buồn khổ, sầu thương, khóc lóc rơi lệ, đứng trước mặt ta?’ Vị trời kia thưa rằng: ‘Tâu Câu-dực, nên biết, nước lớn, gió bão, mưa to, cây Thiện trụ ni câu loại thọ vương bị tróc gốc ngã đổ’. Khi ấy, Thiên đế Thích bảo Thọ thiên kia rằng: ‘Thiên, ông là Thọ thiên, trụ Thọ thiên pháp mà để nước lớn, gió mạnh, mưa to làm cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương bị tróc gốc ngã đổ sao?’ Thọ thiên thưa rằng: ‘Tâu Câu-dực, thế nào gọi là Thọ thiên trụ Thọ thiên pháp?’ Thiên Đế Thích bảo, ‘Thiên, giả sử có người muốn được rễ cây, cứ lấy rễ cây đi; muốn được cành cây, nhánh cây, lá cây, hoa quả, cứ đem đi, Thọ thiên không nên giận dữ, không nên ghen ghét, tâm không nên thù hận, Thọ thiên vẫn an trụ trên thọ thiên với ý niệm buông xả. Như vậy gọi là Thọ thiên trụ Thọ thiên pháp’. Vị trời kia lại tâu rằng: ‘Tâu Câu-dực, tôi là Thọ thiên mà không trụ Thọ thiên pháp. Từ nay về sau tôi sẽ trụ Thọ thiên pháp. Ước mong cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương trở lại như cũ’. Rồi thì Thiên đế Thích thực hiện như ý túc như vậy. Thực hiện như ý túc như vậy xong, lại hóa làm nước lớn, gió bão, mưa to. Hóa làm nước lớn, gió bão, mưa to xong, cây Thiện trụ ni-câu-loại thọ vương liền trở lại như cũ.

“Này Đàm-di, cũng vậy, Tỳ-kheo bị người mắng nhiếc, không mắng nhiếc lại; bị người sân giận không sân giận lại; bị người quấy phá, không quấy phá lại; bị đánh đập không đánh đập lại. Này Đàm-di, như vậy gọi là Sa-môn trụ Sa-môn pháp.”

Lúc đó, Tôn giả Đàm-di liền từ chỗ ngồi, trịch vai áo đang mặc, chắp tay hướng Phật khóc lóc rơi lệ, bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, con không phải là Sa-môn trụ Sa-môn pháp. Từ nay về sau con sẽ là Sa-môn trụ Sa-môn pháp.”

Đức Thế Tôn dạy:

“Xưa có một Đại sư tên là Thiện Nhãn, được các ngoại đạo Tiên nhân tôn làm tôn sư, lìa bỏ ái dục, được như ý túc. Đàm-di, Thiện Nhãn đại sư có vô lượng trăm ngàn đệ tử. Đàm-di, Thiện Nhãn đại sư nói Phạm thế pháp cho các đệ tử nghe. Đàm-di, khi Thiện Nhãn đại sư nói Phạm thế pháp cho các đệ tử, trong các đệ tử có người không phụng hành trọn vẹn, người ấy sau khi mạng chung, hoặc sanh lên cõi trời Tứ thiên vương, hoặc sanh cõi trời Tam thập tam thiên, hoặc sanh cõi trời Diệm-ma, hoặc sanh cõi trời Đâu-suất-đà, hoặc sanh cõi trời Hóa lạc, hoặc sanh cõi trời Tha hóa lạc. Đàm-di, khi Thiện Nhãn đại sư nói Phạm thế pháp cho đệ tử nghe, trong các đệ tử có người phụng hành trọn vẹn, người ấy tu bốn phạm trụ, lìa bỏ dục. Khi mạng chung rồi được sanh lên cõi trời Phạm thiên. Đàm-di, khi ấy Thiện Nhãn đại sư nghĩ rằng: ‘Đời sau ta không nên cùng các đệ tử đồng sanh đến một chỗ. Bây giờ ta hãy tu tăng thượng từ. Sau khi tu tăng thượng từ, mạng chung, ta sẽ được sanh vào cõi trời Hoảng dục.’ Đàm-di, sau đó Thiện Nhãn đại sư liền tu tăng thượng từ. Sau khi tu tăng thượng từ, mạng chung được sanh vào cõi trời Hoảng dục. Đàm-di, Thiện Nhãn đại sư và các đệ tử học đạo không luống công, được quả báo lớn. Cũng như Thiện Nhãn đại sư, có các Đại sư Mâu-lê-phá-quần-na, A-la-na-giá Bà-la-môn, Cù-đà-lê-xá-đa, Hại-đề-bà-la Ma-nạp, Thù-đề-ma-lệ Kiều-đệ-bà-la và Thất-đa Phú-lâu-hề-đa.

“Đàm-di, Đại sư Thất-đa Phú-lâu-hề-đa cũng có vô lượng trăm ngàn đệ tử. Đàm-di, Đại sư Thất-đa Phú-lâu-hề-đa nói Phạm thế pháp cho các đệ tử. Trong số các đệ tử có người không phụng hành trọn vẹn pháp đã dạy, người ấy sau khi thân hoại mạng chung, hoặc sanh lên cõi trời Tứ thiên vương, hoặc sanh cõi trời Tam thập tam thiên, hoặc sanh cõi trời Diệm-ma, hoặc sanh cõi trời Đâu-suất-đà, hoặc sanh cõi trời Hóa lạc, hoặc sanh cõi trời Tha hóa. Đại sư Thất-đa Phú-lâu-hề-đa khi nói Phạm thế pháp, trong số các đệ tử có người phụng hành trọn vẹn pháp ấy, tu bốn phạm thất, lìa bỏ dục ái. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào cõi trời Phạm Thiên. Đàm-di, Đại sư Thất-đa Phú-lâu-hề-đa nghĩ rằng: ‘Đời sau ta không nên cùng các đệ tử sanh cùng một chỗ. Bây giờ ta nên tu tăng thượng từ. Sau khi tu tăng thượng từ, mạng chung sẽ được sanh vào cõi trời Hoảng dục’. Đàm-di, sau đó vị Đại sư thứ bảy Thất-đa Phú-lâu-hề-đa tu tăng thượng từ. Sau khi tu tăng thượng từ rồi, mạng chung được sanh lên cõi trời Hoảng dục. Đàm-di, Đại sư Thất-đa Phú-lâu-hề-đa và các đệ tử học đạo không hư dối, được quả báo lớn.

“Đàm-di, nếu có người nào mắng nhiếc bảy vị Đại sư và vô lượng trăm ngàn đệ tử kia, cùng đánh đậo, sân nhuế, trách móc họ, chắc chắn chịu vô lượng tội. Nhưng đối với một Tỳ-kheo đã thành tựu chánh niệm, một đệ tử Phật chứng đắc tiểu quả, mà có ai mắng nhiếc, đánh đạp, sân nhuế, trách móc vị ấy thì tội nhiều hơn thế nữa.

“Thế cho nên, này Đàm-di, các ngươi hãy luôn luôn nhắc nhở, thủ hộ lẫn nhau. Vì sao như vậy? Vì ngoài sự lỗi lầm này, không còn sự lỗi lầm nào hơn nữa.”

Khi ấy, Đức Thế Tôn nói kệ:

Tu-niết, Mâu-lê-phá-quần-na,
A-la-na-giá Bà-la-môn,
Cù-đà-lê-xá-đa,
Hại-đề-bà-la Ma-nạp,
Thù-đề-ma-lệ Kiều-tì-bà-la và
Thất-đa Phú-lâu-hề-đa,
Trong đời quá khứ ấy
Danh đức bảy tông sư,
Bi tâm, không nhiễm ái,
Dục kết đã dứt trừ.
Trăm ngàn số đệ tử,
Vô lượng đếm sao vừa,
Cũng đều ly dục kết,
Dù cứu cánh còn chưa.
Với các Tiên nhân ấy,
Thủ trì khổ hạnh này,
Ai ôm lòng oán hận,
Tội mắng nhiếc nhiều thay.
Huống chi với Phật tử,
Vị đã đạt chánh kiến;
Ai chửi mắng, đập phá,
Tội nghiệp lại tràn đầy.
Này Đàm-di, do đó,
Hãy biết thủ hộ nhau.
Sở dĩ hộ trì nhau,
Tội nặng nào hơn đâu.
Khổ quá nặng như thế,
Bậc Thánh cũng ghét bỏ,
Màu da lại dữ dằn;
Chớ thủ tà kiến xứ.
Đó là hạng thấp hèn,
Thánh pháp gọi như thế.
Vị chưa lìa dâm dục,
Nhnưg có năm diệu ngũ căn:
Tín, tinh tấn, niệm xứ,
Cùng chánh định, chánh quán:
Ai làm khổ vị ấy,
Trước phải thọ họa tai.
Họa tai đã tự thọ,
Sau nữa gây hại người.
Ai biết tự thủ hộ,
Tất thủ hộ bên ngoài.
Cho nên hãy tự hộ,
Kẻ trí hoan lạc thay!

Phật thuyết như vậy, Tôn giả và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải MA131...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc