Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại Câu-lâu-sấu, trú ở tịnh thất đệ nhất của Bà-la-bà trên một đệm cỏ.
Bấy giờ vào lúc sáng sớm, Đức Thế Tôn mang y, cầm bát vào Kiếm-ma-sắt-đàm, tuần tự khất thực. Sau buổi cơm trưa, thu dọn y bát, rửa tay chân, Ngài vắt tọa cụ lên vai đi đến chỗ nghỉ ban ngày tại một khu rừng. Khi đã vào rừng, Đức Thế Tôn đến dưới một gốc cây, trải tọa cụ và ngồi kiết già.
Lúc ấy vào buổi xế trưa, Dị học Man-nhàn-đề thong dong, tản bộ đến Đệ nhất tịnh thất của Bà-la-bà. Từ xa Dị học Man-nhàn-đề thấy trên sàn rải cỏ ở tịnh thất ấy có dấu nằm một bên hông, như chỗ nằm của sư tử, của Sa-môn, của đồng phạm hạnh. Trông thấy vậy, Dị học Man-nhàn-đề hỏi Bà-la-bà:
“Trong Đệ nhất tịnh thất ấy, sàn cỏ có dấu nằm một bên hông này của ai mà giống như chỗ nằm của sư tử, của Sa-môn, của đồng phạm hạnh như thế?”
Bà-la-môn Bà-la-bà đáp:
“Này Man-nhàn-đề, có Sa-môn Cù-đàm con dòng họ Thích, từ bỏ Thích tộc, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, đắc quả Vô thượng Chánh đẳng giác. Ở trong tịnh thất đó, sàn cỏ có dấu nằm một bên hông đó, như chỗ nằm của sư tử, của Sa-môn, của đồng phạm hạnh chính là của Sa-môn Cù-đàm.”
Dị học Man-nhàn-đề nói:
“Này Bà-la-bà, tôi nay phải thấy cảnh không đáng thấy, phải chấp thuận điều không đáng nghe; nghĩa là phải thấy chỗ nằm của Sa-môn Cù-đàm. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm ấy là kẻ phá hoại. Kẻ phá hoại là kẻ vô dụng.
Bà-la-bà nói:
“Này Man-nhàn-đề, ông không nên đem điều đó mà phỉ báng Sa-môn Cù-đàm. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm có nhiều trí tuệ, Sát-lị trí tuệ, Bà-la-môn trí tuệ, Cư sĩ trí tuệ, Sa-môn trí tuệ. Ai giảng thuyết về trí tuệ thảy đều đắc Thánh trí. Này Man-nhàn-đề, tôi muốn đem ý nghĩa đó mà nói với Sa-môn Cù-đàm có được chăng?”
Man-nhàn-đề đáp:
“Này Bà-la-bà, tùy ý ông. Tôi thấy không gì trở ngại. Này Bà-la-bà, nếu gặp Sa-môn Cù-đàm, tôi cũng nói như thế. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm là kẻ phá hoại. Kẻ phá hoại là kẻ vô dụng.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn ở chỗ nghỉ trưa với thiên nhĩ thanh tịnh, vượt hẳn người thường, nghe Bà-la-môn Bà-la-bà cùng Dị học Man-nhàn-đề đang bàn luận chuyện ấy. Nghe xong, vào lúc xế chiều, Thế Tôn từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy, đi đến Đệ nhất tịnh thất của Bà-la-bà, trải tọa cụ lên đệm cỏ, rồi ngồi kiết già. Bà-la-môn Bà-la-bà từ xa trông thấy Thế Tôn ở giữa rừng cây, trang nghiêm, đẹp đẽ, như vầng trăng giữa vòm trời sao, chói lọi rạng ngời, tỏa chiếu như núi vàng, đầy đủ tướng tốt, oai thần nguy nguy, các căn vắng lặng, không bị chướng ngại, thành tựu điều ngự, nội tâm tĩnh chỉ, tịnh mặc. Sau khi trông thấy, Bà-la-môn ấy đi đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi nhau rồi ngồi qua một bên.
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Bà-la-bà, ông đã cùng với Man-nhàn-đề bàn luận về chỗ đệm cỏ này phải chăng?”
Bà-la-môn Bà-la-bà đáp:
“Đúng như vậy, bạch Cù-đàm. Con cũng định đem chuyện đó thưa với Cù-đàm, nhưng chưa nói kịp mà Cù-đàm đã biết. Vì sao? Vì Như Lai là Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.”
Đức Thế Tôn và Bà-la-môn Bà-la-bà cùng nhau thảo luận về vấn đề này. Sau đó, Dị học Man-nhàn-đề tản bộ đến Đệ nhất tịnh thất ấy. Từ xa, Đức Thế Tôn trông thấy Dị học Man-nhàn-đề đến, liền bảo:
“Này Man-nhàn-đề, không chế ngự nhãn căn, không thủ hộ kín đáo, không tu, thì chắc chắn thọ khổ báo. Đối với nhãn căn ấy, Cù-đàm khéo chế ngự, khéo thủ hộ kín đáo, khéo tu, nên chắc chắn được lạc báo. Này Man-nhàn-đề, có phải vì nhân ấy mà ông bảo rằng, ‘Sa-môn Cù-đàm là kẻ phá hoại. Kẻ phá hoại là kẻ vô dụng’?”
Man-nhàn-đề trả lời:
“Đúng như vậy, Cù-đàm.”
“Này Man-nhàn-đề, cũng vậy, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý căn; nếu không chế ngự ý căn, không thủ hộ kín đáo, không khéo tu, thì chắc chắn thọ khổ báo. Đối với ý căn ấy, Cù-đàm khéo chế ngự, khéo thủ hộ kín đáo, khéo tu, nên chắc chắn được lạc báo. Này Man-nhàn-đề, có phải vì nhân đó mà ông bảo rằng, ‘Sa-môn Cù-đàm là kẻ phá hoại. Kẻ phá hoại là kẻ vô dụng’?”
Man-nhàn-đề đáp:
“Đúng như vậy, Cù-đàm.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Người khi chưa xuất gia học đạo, với con mắt, vị ấy biết sắc khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc, tương ưng với dục. Một thời gian sau, vị ấy xả bỏ sắc được biết bởi mắt, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo. Vị ấy thấy, biết như thật về sự tập khởi của sắc được biết bởi mắt, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai họa, sự xuất yếu của sắc ấy, an trú với nội tâm tịch tĩnh. Vị ấy thấy những người chưa ly sắc dục, bị sự ham muốn sắc nhai nuốt, bị hơi nóng của sắc thiêu đốt; đối với sắc, được biết bởi mắt khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc, tương ưng với dục, sau khi an trụ mà thấy như vậy, vị ấy không thỏa mãn, không ham thích. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Nếu có lạc thú, do ái, do sắc, mà khi hoan lạc trong lạc thú này, vì chúng thấp hèn, cho nên không thỏa mãn chúng, vì chúng thấp hèn cho nên không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, đối với người này, ông có nói gì chăng?”
“Dạ không, thưa Cù-đàm.”
“Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Người khi chưa xuất gia cũng vậy đối với tiếng được biết bởi tai, hương được biết bởi mũi, vị được biết bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân, khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc tương ưng với dục. Một thời gian sau, vị ấy xả bỏ xúc được biết bởi thân, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo; vị ấy biết và thấy như thật về sự tập khởi của xúc, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai hoạn, sự xuất yếu của xúc, an trú nơi nội tâm tịch tĩnh; vị ấy thấy những người chưa ly xúc,dục, bị sự ham muốn xúc nhai nuốt, bị hơi nóng của xúc thiêu đốt; đối với xúc được biết bởi thân khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc, tương ưng với dục; sau khi an trụ mà thấy như vậy, vị ấy không thỏa mãn, không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào, nếu có lạc thú do ái, do xúc này, thì khi hoan lạc trong lạc thú này, vì chúng thấp hèn cho nên không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề đối với người này, ông có nói gì chăng?”
“Dạ không, thưa Cù-đàm.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Người khi chưa xuất gia học đạo, thấy năm công đức của dục khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc tương ưng với dục. Một thời gian sau, người ấy xả bỏ năm công đức của dục, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, thấy như thật về sự tập khởi của năm công đức của dục, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai họa, sự xuất yếu của năm công đức của dục, an trú với nội tâm tịch tĩnh. Vị ấy thấy những người chưa ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt; đối với năm công đức của dục khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc, tương ưng với dục, sau khi an trụ mà thấy như vậy, vị ấy không thỏa mãn, không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Nếu có lạc thú do dục, do dục ái này, khi hoan lạc trong lạc thú này, vì chúng thấp hèn cho nên không thỏa mãn chúng, vì chúng thấp hèn cho nên không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, đối với người này, ông có nói gì chăng?”
“Dạ không, thưa Cù-đàm.”
“Này Man-nhàn-đề, Ta khi chưa xuất gia học đạo, hưởng thụ năm công đức của dục, dễ được, không khó, khả ái, khả niệm, khả ý, khã lạc, tương ưng với dục. Sau đó Ta xả bỏ năm công đức của dục, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo. Ta thấy như thật về sự tập khởi của năm công đức của dục, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai hoạn và xuất yếu của năm công đức của dục, an trú với nội tâm tịch tĩnh. Ta thấy những người chưa ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt; đối với năm công đức của dục khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc, tương ưng với dục, sau khi an trụ mà thấy như vậy, Ta không thỏa mãn chúng, không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Nếu có lạc thú do dục, do dục ái này, khi hoan lạc trong lạc thú này, vì chúng thấp hèn nên Ta không thỏa mãn chúng, vì chúng thấp hèn cho nên Ta không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, đốùi với Ta, ông có nói gì chăng?”
“Dạ không, thưa Cù-đàm.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Man-nhàn-đề, cũng như cư sĩ, hay con của cư sĩ, rất giàu, của cải vô lượng, nuôi nhiều súc vật, phong hộ, thực ấp đầy đủ các thứ cần cho sự sống; người ấy hưởng năm công đức của dục, dễ được không khó, lại thành tựu thân diệu hành, khẩu và ý diệu hành; lúc chết, không muốn xả bỏ năm công đức của dục; sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ thiện; sanh lên cõi trời, hưởng đầy đủ năm công đức của dục. Này Man-nhàn-đề, Thiên vương hoặc Thiên tử ấy có thể xả bỏ năm công đức của dục ở cõi trời mà hoan hỷ hướng đến dục lạc ở nhân gian chăng?”
Man-nhàn-đề đáp:
“Dạ không, thứ Cù-đàm. Vì sao? Vì dục lạc ở nhân gian vốn xú uế, bất tịnh, rất đáng ghê tởm, không thể tưởng tới, vốn não hại, cực khổ. Thưa Cù-đàm, so với dục lạc ở thế gian, dục lạc cõi Trời là tối diệu, tối thắng. Thiên vương hay Thiên tử kia mà xả bỏ năm công đức của dục ở cõi trời để hoan hỷ tưởng đến dục lạc ở thế gian; điều đó không thể xảy ra được.”
“Cũng vậy, Này Man-nhàn-đề, Ta đoạn tuyệt dục lạc nhân gian, vượt khỏi dục lạc cõi trời, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, thấy như thật về sự tập khởi của năm công đức của dục ấy, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai họa, cùng sự xuất yếu của chúng, an trú với nội tâm tịch tĩnh. Ta thấy những người chưa ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt; đối với năm công đức dục khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc, tương ưng với dục, sau khi an trụ, thấy như vậy, Ta không thỏa mãn chúng, Ta không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, ý ông nghĩ sao, nếu có lạc thú do dục, do dục ái này, trong khi hoan lạc trong lạc thú này, vì chúng thấp hèn cho nên Ta không thỏa mãn chúng; vì chúng thấp hèn cho nên Ta không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, đối với Ta, ông có nói gì chăng?”
“Dạ không, thưa Cù-đàm.”
“Này Man-nhàn-đề, cũng như người bị bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét. Người ấy gãi, cào rách các mụt ghẻ, hơ lên bếp lửa. Này Man nhà đề, ông nghĩ thế nào? Nếu người bị bệnh cùi thân thể lở lói, bị trùng đục khoét mà lấy tay gãi các mụt, cào rách, rồi hơ lên bếp lửa, như vậy liệu trừ bệnh có kết quả, không làm hại các căn, thoát khỏi cùi hủi, thân thể lành mạnh, bình phục như cũ được chăng?”
Man-nhàn-đề đáp:
“Dạ không, thưa Cù-đàm. Vì sao? Vì người mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét mà lấy tay gãi, cào rách các mụt, hơ trên bếp lửa, như vậy chỉ làm cho các mụt lở lói hơn trước mà thôi, nhưng bệnh nhân thì lại lấy ghẻ cùi làm sự thích thú.”
“Này Man-nhàn-đề, cũng như người mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét mà lấy tay gãi, cào rách các mụt rồi hơ lên bếp lửa, như vậy chỉ làm cho các mụt lở lói hơn trước mà thôi, nhưng bệnh nhân thì lại lấy ghẻ cùi làm sự thích thú. Này Man nhà đề, cũng như thế, chúng sanh chưa ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt, mà cứ chạy theo dục. Này Man-nhàn-đề, chúng sanh ấy, vì chưa ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt, mà cứ chạy theo dục, thì chỉ làm cho dục tăng trưởng, làm cho ái bành trướng thêm mà thôi; nhưng chúng sanh ấy thì lại lấy ái dục làm sự khoái lạc. Nếu chúng sanh đó không đoạn dục, không ly dục ái mà đã an trụ, sẽ an trụ hay đang an trụ với nội tâm tịch tĩnh, thì điều đó không thể xảy ra. Vì sao? Vì đó không phải là đạo lý để đọan dục, để ly dục ái, mà là chạy theo dục.
“Này Man-nhàn-đề, cũng như vua và đại thần hưởng năm công đức của dục, dễ được, ù không khó. Nếu các vị ấy không đoạn dục, không ly dục ái mà đã an trụ hay đang an trụ với nội tâm tịch tĩnh, thì điều đó không thể có được. Vì sao? Vì đó không phải là đạo lý để đoạn dục, để ly dục ái mà là chạy theo dục. Cũng vậy, Này Man-nhàn-đề, chúng sanh chưa ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt, mà chạy theo dục, thì Này Man-nhàn-đề, chúng sanh ấy chỉ làm cho dục tăng trưởng, làm chó dục ái bành trướng thêm mà thôi; nhưng chúng sanh ấy thì lại lấy dục ái làm sự hoan lạc. Nếu chúng sanh không đoạn dục, không ly dục ái mà đã an trụ, đang an trụ và sẽ an trụ với nội tâm tịch tĩnh, thì điều ấy không thể xả ra được. Vì sao? Vì đó không phải là đạo lý để đoạn dục, để ly dục ái mà là chạy theo dục.
“Này Man-nhàn-đề, cũng như người mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét, lấy tay gãi, cào rách các mụt, hơ lên bếp lửa; có người xót thương, mưu cầu thiện lợi và hữu ích, an ổn và khoái lạc nên cho một thứ thuốc hay nào đó. Khi được cho thứ thuốc hay nào đó, trị bệnh có hiệu quả, không làm hư hoại các căn, người bệnh khỏi được bệnh cùi, thân thể tráng kiện, bình phục như cũ. Sau khi lành bệnh, nếu thấy ai mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét, lấy tay gãi, cào rách các mụt, hơ lên bếp lửa, này Man-nhàn-đề, thấy vậy, người ấy có hoan hỷ ngợi khen chăng?”
Man-nhàn-đề đáp:
“Dạ không, thưa Cù-đàm. Vì sao? Vì có bệnh mới cần thuốc, chứ không bệnh thì không cần.”
“Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Người mắc bệnh cùi ấy chữa bệnh có kết quả, không hư hoại các căn, thoát khỏi bệnh cùi, thân thể khỏe mạnh hoàn toàn, bình phục như cũ. Có hai người lực sĩ bắt người ấy hơ lên bếp lửa, người ấy hoảng hốt né tránh vì cảm thấy quá nóng. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào, bếp lửa bây giờ lại nóng hơn, khiến cho rất khổ, nguy hiểm hơn trước nhiều lắm chăng?”
“Dạ không, thưa Cù-đàm. Trước kia, còn mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét, bệnh nhân lấy tay gãi, cào rách các mụt, hơ lên bếp lửa. đối với sự khổ bức nóng của lửa, bệnh nhân lại cảm thấy hoan lạc; ấy là do tâm mê loạn mà có ý tưởng điên đảo. Thưa Cù-đàm, trái lại bây giờ trị bệnh có kết quả, không hư hoại các căn, thoát khỏi bệnh cùi, thân thể khỏe mạnh hoàn toàn bình phục như cũ, người ấy đối với sự khổ bức của lửa lại cảm thấy khổ sở, như vậy là do tâm sáng suốt, không có ý tưởng điên đảo.”
“Này Man-nhàn-đề, cũng người mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét, bệnh nhân lấy tay gãi, cào rách các mụt, hơ lên bếp lửa; đối với sự khổ bức của lửa, bệnh nhân lại thấy khoan khoái; ấy là do tâm mê loạn, có ý tưởng điên đảo. Cũng vậy, Này Man-nhàn-đề, chúng sanh không ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt mà chạy theo dục; những kẻ ấy đối với khổ dục lại có ý tưởng dục lạc; ấy là do tâm mê loạn, có ý tưởng điên đảo.
“Này Man-nhàn-đề, người trị bệnh đã có kết quả, không hư hoại các căn, đã khỏi bệnh ghẻ cùi, thân thể khỏe mạnh, hoàn toàn bình phục như cũ; người ấy đối với sự khổ bức của lửa thì cảm thấy đau khổ; ấy là do tâm yên ổn, không có ý tưởng điên đảo, cũng vậy, Này Man-nhàn-đề, Ta đối với khổ dục, thì có ý tưởng về khổ dục như thật, không có ý tưởng điên đảo. Vì sao? Này Man-nhàn-đề, vì dục quá khứ là bất tịnh, xấu xa, rất đáng ghê tởm, không thể hướng đến, não hại, gây đau khổ; dục vị lai và hiện tại cũng bất tịnh, xấu xa rất đáng ghê tởm, không thể hướng đến, não hại, cảm thọ khổ. Cho nên, Này Man-nhàn-đề, Như Lai, Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác nói rằng: Không bệnh là thiện lợi bậc nhất, Niết-bàn là sự an lạc tối thượng."
Dị học Man-nhàn-đề thưa:
“Thưa Cù-đàm, tôi cũng đã từng nghe các bậc kỳ cựu tôn trưởng lão, học Phạm hạnh đã lâu, nói rằng: Không bệnh là thiện lợi bậc nhất, Niết-bàn là an lạc tối thượng."
Đức Thế tôn hỏi:
“Nếu ông đã từng nghe các bậc kỳ cựu tôn đức trưởng lão học Phạm hạnh đã lâu nói rằng: Không bệnh là thiện lợi bậc nhất, Niết-bàn là sự an lạc tối thượng; thì Man nhàn đề, thế nào là không bệnh, thế nào là Niết-bàn?”
Bấy giờ, Man-nhàn-đề Dị học, đối với thân là bệnh hoạn, là ung nhọt, là mũi tên, là rắn độc, là vô thường, là khổ, là không, là chẳng phải tự ngã, nhưng lại dùng hai tay xoa bóp mà nói rằng:
“Thưa Cù-đàm, cái này không bệnh, cái này là Niết-bàn.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Man-nhàn-đề, cũng như người mù bẩm sinh, nghe người có mắt nói rằng: ‘Trắng tinh, không bẩn! Trắng tinh, không bẩn!’ Nghe như vậy, người mù đi tìm cái trắng tinh. Có người lừa đối, không mưu cầu thiện lợi hữu ích, an ổn khoái lạc cho người mù, nên đem chiếc áo cáu ghét nhơ bẩn, đến nói với người mù rằng: ‘Ông nên biết, đây là chiếc áo trắng tinh, không bẩn. Ông hãy cung kính đưa hai tay nhận lấy mà khoác lên thân.’ Người mù ấy liền hoan hỷ đưa hai tay cung kính thọ nhận, khoác lên thân mà nói rằng: ‘Trắng tinh, không bẩn! Trắng tinh không bẩn!’ Này Man-nhàn-đề, người mù ấy tự mình biết mà nói lên như thế, hay không tự mình biết mà nói lên như thế? Tự mình thấy mà nói lên như thế, hay không tự mình thấy mà nói lên như thế?”
Man-nhàn-đề dị đạo đáp:
“Thưa Cù-đàm, người ấy nói như vậy nhưng quả thật không biết, không thấy gì cả.”
Đức Thế Tôn nói:
“Cũng vậy, Này Man-nhàn-đề, ông như người mù không có mắt. Thân chính là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là rắn độc, là vô thường, là khổ, là không, là không phải tự ngã. Thế mà ông dùng hai tay xoa bóp và nói rằng: ‘Thưa Cù-đàm, cái này không bệnh, cái này là Niết-bàn.’ Này Man-nhàn-đề, thế nào là không bệnh, ông còn không biết, há lại thấy biết Niết-bàn, được Niết-bàn chăng? Nói rằng thấy Niết-bàn thì quả không thể được. Này Man-nhàn-đề, Như Lai, Vô sở trước Đẳng chánh giác nói rằng:
Không bệnh, lợi bậc nhất,
Niết-bàn, lạc tối thượng,
Chỉ con đường Bát chánh,
Đến an ổn cam lồ.
“Trong chúng đó nhiều người được nghe bài kệ này. Sau khi số đông những người dị họ nghe bài kệ này, liền truyền lại cho nhau, nhưng không hiểu rõ nghĩa lý. Họ đã nghe và muốn tìm cầu giáo nghĩa, họ đều là kẻ ngu si, trở lại tự lừa dối lẩn nhau. Thân bốn đại hiện tại của họ là do cha me sanh ra, được nuôi lớn nhờ ăn uống, che đậy của y phục, chăm sóc bằng tắm rửa, đó là pháp hủy hoại, là pháp tan rã, nhưng họ thấy là ngã, chấp thủ là ngã, duyên thủ nên có hữu, duyên hữu nên có sanh, duyên nới sanh nên có già, chết, duyên nơi già, chết nên có buồn rầu, khóc than, lo lắng, khổ sở, áo não. Như vậy, toàn bộ khối lớn khổ đau này phát sanh.”
Khi ấy, Man-nhàn-đề Dị học liền đứng dậy, trịch vai áo, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn và bạch:
“Bạch Cù-đàm, nay con hoàn toàn tin tưởng Sa-môn Cù-đàm. Mong Cù-đàm thuyết pháp cho con nghe, để con được biết: Đây là sự không bệnh, đây là Niết-bàn.”
Đức The Tôn nói:
“Này Man-nhàn-đề, nếu Thánh tuệ nhãn của ông chưa được thanh tịnh; dù Ta có thuyết giảng cho nghe về sự không bệnh, về Niết-bàn, thì ông cũng không thể nào hiểu được, mà chỉ nhọc công cho Ta thôi. Này Man-nhàn-đề, ví như người sanh ra đã bị mù, nghe người khác đến nói rằng: ‘Ông nên biết, đây là sắc xanh, sắc vàng, sắc đỏ, sắc trắng.’ Này Man-nhàn-đề, người mù ấy chỉ nghe người khác nói, có biết đây là sắc xanh, sắc vàng, sắc đỏ, sắc trắng chăng?”
Man-nhàn-đề đáp:
“Dạ không, thưa Cù-đàm.”
“Cũng vậy, này Man nhàn đề, nếu Thánh tuệ nhãn của ông chưa được thanh tịnh; dù Ta có thuyết giảng cho ông nghe về sự không bệnh, về Niết-bàn, thì ông cũng không thể nào hiểu được, mà chỉ nhọc công Ta thôi. Này Man-nhàn-đề, Ta sẽ thuyết giảng cho ông nghe về diệu dược thích hơp khiến cho Thánh tuệ nhãn chưa được thanh tịnh liền được thanh tịnh. Này Man-nhàn-đề, nếu Thanh tuệ nhãn của ông được thanh tịnh, ông sẽ tự biết: ‘Đây là sự không bệnh, đây là Niết-bàn.’ Này Man-nhàn-đề, ví như người mù bẩm sinh, có thân nhân mong muốn cho được an ổn, khoái lạc nên tìm cầu thầy chữa mắt. Thầy chữa mắt trị liệu bằng mọi cách, hoặc khiến nôn ra ở trên, hoặc khiến bài tiết ở dưới, hoặc nhỏ thuốc vào lỗ mũi, hoặc rửa ở dưới, hoặc chích ở mạch, hoặc khiến chảy nước mắt ra. Này Man-nhàn-đề, giả sử trúng thuốc thì hai mắt được trong sáng. Này Man-nhàn-đề, nếu người ấy hai mắt được trong sáng thì tự mình thấy đây là sắc xanh, sắc vàng, sắc đỏ, sắc trắng. Người ấy thấy cái áo cáu ghét dơ bẩn, nên nghĩ rằng: ‘Người kia là oan gia, từ lâu nó đã đem cái áo cáu ghét mà dối gạt ta. Rồi nó sanh tâm oán ghét. Này Man-nhàn-đề, người ấy có thể sát hại người kia. Cũng vậy, này Man nhàn đề, Ta sẽ thuyết giảng cho ông nghe về diệu dược thích hợp, khiến cho Thánh tuệ nhãn chưa thanh tịnh liền được thanh tịnh. Này Man-nhàn-đề, nếu Thánh tuệ nhãn của ông được thanh tịnh, ông sẽ tự biết: ‘Đây là sự không bệnh, đây là Niết-bàn.’
“Này Man-nhàn-đề, có bốn pháp khiến người Thánh tuệ nhãn chưa thanh tịnh liền được thanh tịnh. Những gì là bốn? Là thân cận thiện tri thức mà cung kính thừa sự, nghe thiện pháp, khéo tư duy, thực hành pháp tùy pháp. Này Man-nhàn-đề, ông nên học như vậy. Thân cận thiện tri thức mà cung kính thừa sự, nghe thiện pháp, khéo tư duy, thực hành pháp tùy pháp, Này Man-nhàn-đề nên học như vậy.
“Này Man-nhàn-đề, ông đã thân cận thiện tri thức mà cung kính thừa sự rồi, liền được nghe thiện pháp; sau khi nghe được thiện pháp sẽ khéo tư duy; sau khi khéo tư duy, sẽ thực hành pháp tùy pháp; sau khi thực hành theo háp tùy pháp rồi, liền biết như thật rằng: Đây là Khổ, đây là Khổ Tập, đây là Khổ diệt, biết như thật đây là Khổ diệt đạo.
“Thế nào là biết Khổ như thật? Là biết khổ sanh, khổ già, khổ bệnh, khổ chết, khổ oán tăng hội, khổ ái biệt ly, khổ cầu bất đắc; nói tóm, năm thủ uẩn là khổ. Đó gọi là biết khổ như thật.
“Thế nào là biết Khổ tập như thật? Biết rằng đây là tham ái dẫn đến tiếp thọ sự hữu trong tương lai, tương ưng với hỷ dục, ước mong đời sống như thế này hay như thế kia. Đó gọi là biết Khổ tập như thật.
“Thế nào là biết Khổ diệt như thật? Biết rằng đây là tham ái dẫn đến tiếp thọ sự hữu trong tương lai, đí đôi với hỷ dục ước mong đời sống như thế này hay như thế kia; tham ái ấy đã diệt tận không còn dư tàn, đã bị đoạn trừ, đã bị xả ly, đã nôn ra hết, không còn tham dục, đã thanh tịnh, đoạn trừ, tĩnh chỉ. Đó gọi là biết Khổ diệt như thật.
“Thế nào là biết Khổ diệt đạo như thật? Là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó gọi là biết Khổ diệt đạo như thật.”
Sau khi nghe nói pháp này, Dị học Man-nhàn-đề xa lìa trần cấu, pháp nhãn về các pháp phát sanh. Lúc bấy giờ, Dị học Man-nhàn-đề thấy pháp, đắc pháp, giác chứng bạch tịnh pháp, đoạn nghi, trừ hoặc, không còn tôn thờ ai, không còn do ai, không còn do dự, đã an trụ nới quả chứng, đối với pháp của Thế Tôn đã được vô sở úy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật và bạch:
“Bạch Thế Tôn, cúi mong Thế Tôn cho con xuất gia học đạo, thọ giới cụ túc, được làm Tỳ-kheo.”
Đức Thế Tôn nói:
“Lành thay! Hãy đến đây, Tỳ-kheo! Hãy tu hành Phạm hạnh!”
Man-nhàn-đề Dị đạo liền xuất gia học đạo, thọ giới cụ túc, được làm Tỳ-kheo. Sau khi Dị học Man-nhàn-đề xuất gia học đạo, thọ giới cụ túc, được làm Tỳ-kheo rồi, liền chứng quả A-la-hán.
Đức Phật thuyết như vậy, Tôn giả Man-nhàn-đề sau khi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
T 0670a28我聞如是:
一時,佛遊拘樓瘦,在婆羅婆T 0670a29第一靜室,坐於草座。
爾時,世尊過夜平旦,T 0670b01著衣持鉢,入釰摩瑟曇次第乞食。食訖,T 0670b02中後還舉衣鉢,澡洗手足,以尼師檀著T 0670b03於肩上,往詣一林,至晝行處。爾時,世尊入T 0670b04於彼林,至一樹下,敷尼師檀,結加趺坐。
T 0670b05於是,鬚閑提異學中後彷徉,往詣婆羅婆第T 0670b06一靜室,鬚閑提異學遙見婆羅婆第一靜T 0670b07室有布草座一脇臥處,似師子臥,似沙門T 0670b08臥,似梵行臥,鬚閑提異學見已,問曰:「婆羅婆T 0670b09第一靜室,誰有此草座一脇臥處,似師子T 0670b10臥,似沙門臥,似梵行臥?」
婆羅婆梵志答曰:T 0670b11「鬚閑提!有沙門瞿曇釋種子,捨釋宗族,剃T 0670b12除鬚髮,著袈裟衣,至信,捨家、無家、學道,覺T 0670b13無上正盡覺。彼第一靜室有此草座一脇T 0670b14臥處,似師子臥,似沙門臥,似梵行臥。」
鬚閑T 0670b15提異學語曰:「婆羅婆!我今不可見見,不可T 0670b16聞聞,謂我見沙門瞿曇臥處。所以者何?彼沙T 0670b17門瞿曇壞敗地,壞敗地者,無可用也。」
婆羅婆T 0670b18語曰:「鬚閑提!汝不應以此事罵彼沙門瞿T 0670b19曇。所以者何?彼沙門瞿曇多有慧,剎利慧、T 0670b20梵志慧、居士慧、沙門慧,若說慧者皆得聖智。T 0670b21鬚閑提!我欲以此義向彼沙門瞿曇說,為T 0670b22可爾不?」
鬚閑提語曰:「婆羅婆!若欲說者,則T 0670b23隨汝意,我無所違。婆羅婆!若見沙門瞿曇T 0670b24者,我亦說此義。所以者何?彼沙門瞿曇敗壞T 0670b25地,敗壞地者,無可用也。」
爾時,世尊在晝行T 0670b26處,以淨天耳出過於人,聞婆羅婆梵志與T 0670b27鬚閑提異學共論此事。世尊聞已,則於晡T 0670b28時從燕坐起,往詣婆羅婆梵志第一靜室,T 0670b29於草座上敷尼師檀,結加趺坐。婆羅婆T 0670c01梵志遙見世尊在樹林間,端政姝好,猶星T 0670c02中月,光耀煒曄,晃若金山,相好具足,威神T 0670c03巍巍,諸根寂定,無有蔽礙,成就調御,息心靜T 0670c04默。見已,進前往詣佛所,共相問訊,却坐一面。
T 0670c05世尊問曰:「婆羅婆!與鬚閑提異學共論此T 0670c06草坐處耶?」
婆羅婆梵志答世尊曰:「如是。瞿T 0670c07曇!我亦欲以此事向沙門瞿曇說,然沙T 0670c08門瞿曇未說已自知。所以者何?以如來、無T 0670c09所著、等正覺故。」
世尊與婆羅婆梵志共論此T 0670c10事。鬚閑提異學於後彷徉,往詣婆羅婆第一T 0670c11靜室。世尊遙見鬚閑提異學來已,而作是說:T 0670c12「鬚閑提!不調御眼根,不密守護而不修者,T 0670c13必受苦報。彼於沙門瞿曇善自調御,善密T 0670c14守護而善修者,必得樂報。鬚閑提!汝因此故,T 0670c15說沙門瞿曇敗壞地,敗壞地者,無可用耶?」
T 0670c16鬚閑提異學答世尊曰:「如是。瞿曇!」
「鬚閑提!T 0670c17如是耳、鼻、舌、身根,不調御意根,不密守護T 0670c18而不修者,必受苦報。彼於沙門瞿曇善自T 0670c19調御,善密守護而善修者,必得樂報。鬚閑提!T 0670c20汝因此故,說沙門瞿曇敗壞地,敗壞地者,無T 0670c21可用耶?」
鬚閑提異學答世尊曰:「如是。瞿曇!」
T 0670c22世尊問曰:「鬚閑提!於意云何?若人本未出家T 0670c23學道,彼眼知色,愛念意樂,可欲相應。彼於後T 0670c24時捨眼知色,剃除鬚髮,著袈裟衣,至信、捨T 0670c25家、無家、學道。彼眼知色,習、滅、味、患、出要見如T 0670c26真,內息心遊行。彼若見人未離色欲,為色T 0670c27愛所食,為色熱所熱。彼眼知色,愛念意樂,T 0670c28可欲相應,行時見已,不稱彼、不樂彼。鬚閑T 0670c29提!於意云何?若有此樂,因愛因色,樂此樂T 0671a01時,薄賤故不稱彼,薄賤故不樂彼。鬚閑提!T 0671a02寧可於彼有所說耶?」
答世尊曰:「不也。瞿T 0671a03曇!」
「鬚閑提!於意云何?若人本未出家學道,T 0671a04如是耳知聲,鼻知香,舌知味,身知觸,愛T 0671a05念意樂,可欲相應。彼於後時,捨身知觸,剃T 0671a06除鬚髮,著袈裟衣,至信、捨家、無家、學道。彼身T 0671a07知觸,習、滅、味、患、出要,見如真,內息心遊行。T 0671a08彼若見人未離觸欲,為觸愛所食,為觸T 0671a09熱所熱。彼身知觸,愛念意樂,可欲相應,行時T 0671a10見已,不稱彼、不樂彼。鬚閑提!於意云何?T 0671a11若有見此樂,因愛因觸,樂此樂時,薄賤故T 0671a12不稱彼,薄賤故不樂彼。鬚閑提!寧可於T 0671a13彼有所說耶?」
答世尊曰:「不也。瞿曇!」
世尊問T 0671a14曰:「鬚閑提!於意云何?若人本未出家學道,T 0671a15五欲功德愛念意樂,可欲相應。彼於後時,捨T 0671a16五欲功德,剃除鬚髮,著袈裟衣,至信、捨家、T 0671a17無家、學道。彼五欲功德,習、滅、味、患、出要,見如T 0671a18真,內息心遊行。彼若見人未離欲,為欲愛T 0671a19所食,為欲熱所熱,五欲功德愛念意樂,可T 0671a20欲相應,行時見已,不稱彼、不樂彼。鬚閑提!T 0671a21於意云何?若有此樂,因欲因欲愛,樂此T 0671a22樂時,薄賤故不稱彼,薄賤故不樂彼。鬚閑T 0671a23提!寧可於彼有所說耶?」
答世尊曰:「不也。T 0671a24瞿曇!」
「鬚閑提!我本未出家學道時,得五欲T 0671a25功德,易不難得,愛念意樂,可欲相應。我於T 0671a26後時,捨五欲功德,剃除鬚髮,著袈裟衣,至T 0671a27信、捨家、無家、學道。彼五欲功德,習、滅、味、患、出T 0671a28要,見如真,內息心遊行。我見人未離欲,為T 0671a29欲愛所食,為欲熱所熱,五欲功德,愛念意T 0671b01樂,可欲相應,行時見已,我不稱彼,我不樂T 0671b02彼。鬚閑提!於意云何?若有此樂,因欲因欲T 0671b03愛,樂此樂時,薄賤故我不稱彼,薄賤故我T 0671b04不樂彼。鬚閑提!寧可於我有所說耶?」
答T 0671b05世尊曰:「不也。瞿曇!」
世尊告曰:「鬚閑提!猶如T 0671b06居士、居士子,極大富樂,資財無量,多諸畜牧、T 0671b07封戶、食邑,諸生活具種種豐饒,彼得五欲,易T 0671b08不難得。彼成就身妙行,口、意妙行,臨死之T 0671b09時,不樂捨五欲功德,身壞命終,後昇善處,T 0671b10得生天上,具足行五欲功德。鬚閑提!此天T 0671b11及天子寧當捨天五欲功德,樂人間欲,歡喜T 0671b12念耶?」
答世尊曰:「不也。瞿曇!所以者何?人間T 0671b13欲者,臭處不淨,意甚穢惡而不可向,憎諍極T 0671b14苦。瞿曇!於人間欲,天欲最上、最妙、最勝。若T 0671b15彼天及天子捨於天上五欲功德,樂人間欲,T 0671b16歡喜念者,終無是處。」
「如是。鬚閑提!我斷人T 0671b17間欲,度於天欲,剃除鬚髮,著袈裟衣,至T 0671b18信、捨家、無家、學道。彼五欲功德,習、滅、味、患、出T 0671b19要,見如真,內息心遊行。我見人未離欲,為T 0671b20欲愛所食,為欲熱所熱,五欲功德愛念意T 0671b21樂,可欲相應,行時見已,我不稱彼,我不樂T 0671b22彼。鬚閑提!於意云何?若有此樂,因欲因欲T 0671b23愛,樂此樂時,薄賤故我不稱彼,薄賤故我T 0671b24不樂彼。鬚閑提!寧可於我有所說耶?」
答T 0671b25世尊曰:「不也。瞿曇!」
世尊告曰:「鬚閑提!猶人T 0671b26病癩,身體爛熟,為蟲所食,爪擿瘡開,臨火T 0671b27坑炙。鬚閑提!於意云何?若病癩人身體爛T 0671b28熟,為蟲所食,爪擿瘡開,臨火坑炙。如是T 0671b29寧得除病有力,不壞諸根,為脫癩病,身體T 0671c01完健,平復如故,還本所耶?」
答世尊曰:「不T 0671c02也。瞿曇!所以者何?若病癩人身體爛熟,為蟲T 0671c03所食,爪擿瘡開,臨火坑炙。如是更生瘡T 0671c04轉增多,本瘡轉大,然彼反以癩瘡為樂。」
T 0671c05「鬚閑提!如病癩人身體爛熟,為蟲所食爪T 0671c06擿瘡開,臨火坑炙。如是更生瘡轉增多,T 0671c07本瘡轉大,然彼反以癩瘡為樂。鬚閑提!T 0671c08如是眾生未離欲,為欲愛所食,為欲熱T 0671c09所熱而行於欲。鬚閑提!如是眾生未離欲,T 0671c10為欲愛所食,為欲熱所熱而行於欲,如T 0671c11是欲轉增多,欲愛轉廣,然彼反以欲愛為樂。T 0671c12彼若不斷欲,不離欲愛,內息心,已行、當行、T 0671c13今行者,終無是處。所以者何?此非道理,斷T 0671c14欲、離欲愛,謂行於欲。」
世尊告曰:「鬚閑提!猶T 0671c15王及大臣,得五所欲,易不難得。彼若不斷T 0671c16欲,不離欲愛,內息心,已行、當行、今行者,終無T 0671c17是處。所以者何?此非道理,斷欲、離欲愛,謂T 0671c18行於欲。如是,鬚閑提!眾生未離欲,為欲愛T 0671c19所食,為欲熱所熱而行於欲。鬚閑提!若眾T 0671c20生未離欲,為欲愛所食,為欲熱所熱而T 0671c21行欲者,如是欲轉增多,欲愛轉廣,然彼反T 0671c22以欲愛為樂。彼若不斷欲,不離欲愛,內T 0671c23息心,已行、當行、今行者,終無是處。所以者何?T 0671c24此非道理,斷欲、離欲愛,謂行於欲。
「鬚閑提!T 0671c25猶病癩人身體爛熟,為蟲所食,爪擿瘡開,T 0671c26臨火坑炙。有人為彼憐念愍傷,求利及饒T 0671c27益,求安隱快樂,與如其像好藥,與如其像T 0671c28好藥已,除病得力,不壞諸根,已脫癩病,T 0671c29身體完健,平復如故,更還本所。彼若見人T 0672a01有癩病者,身體爛熟,為蟲所食,以爪T 0672a02擿瘡開,臨火坑炙。鬚閑提!彼人見已,寧復T 0672a03意樂稱譽喜耶?」
答世尊曰:「不也。瞿曇!所以T 0672a04者何?有病須藥,無病不須。」
「鬚閑提!於意T 0672a05云何?若彼癩人除病得力,不壞諸根,已脫T 0672a06癩病,身體完健,平復如故,更還本所,有二T 0672a07力士,強捉彼人臨火坑炙。彼於其中慞T 0672a08惶迴避,身生重熱。鬚閑提!於意云何?此火T 0672a09坑者,於今更熱,大苦可患,甚於本耶?」
答世T 0672a10尊曰:「不也。瞿曇!其本病癩,身體爛熟,為蟲所T 0672a11食,爪擿瘡開,臨火坑炙。彼於苦大樂更T 0672a12樂想,其心迷亂,有顛倒想。瞿曇!彼人於今除T 0672a13病得力,不壞諸根,已脫癩病,身體完健,平T 0672a14復如故,更還本所,彼於苦大苦更樂想,T 0672a15其心泰然,無顛倒想。」
「鬚閑提!如病癩人身體T 0672a16爛熟,為蟲所食,爪擿瘡開,臨火坑炙。彼T 0672a17於苦大樂更樂想,其心迷亂,有顛倒想。如T 0672a18是,鬚閑提!眾生不離欲,為欲愛所食,為T 0672a19欲熱所熱而行於欲。彼於苦欲有樂欲想,T 0672a20其心迷亂,有顛倒想。鬚閑提!猶如彼人除T 0672a21病得力,不壞諸根,已脫癩病,身體完健,平T 0672a22復如故,更還本所。彼於苦大苦更樂想,T 0672a23其心泰然,無顛倒想。如是,鬚閑提!我於苦T 0672a24欲有苦欲想,得如真實,無顛倒想。所以T 0672a25者何?鬚閑提!過去時欲不淨臭處,意甚穢惡T 0672a26而不可向,憎諍苦更觸,未來、現在欲亦不T 0672a27淨臭處,意甚穢惡而不可向,憎諍苦更觸。T 0672a28鬚閑提!如來、無所著、等正覺說無病第一利,T 0672a29涅槃第一樂。」
鬚閑提異學白世尊曰:「瞿曇!T 0672b01我亦曾從耆舊尊德長老久學梵行所,聞無T 0672b02病第一利,涅槃第一樂。」
世尊問曰:「鬚閑提!若T 0672b03汝曾從耆舊尊德長老久學梵行所,聞無病T 0672b04第一利,涅槃第一樂。鬚閑提!何者無病?何者T 0672b05涅槃耶?」
於是,鬚閑提異學身即是病、是癰、是T 0672b06箭、是蛇、是無常、是苦、是空、是非神,以兩手T 0672b07抆摸而作是說:「瞿曇!此是無病,此是涅槃。」
T 0672b08世尊語曰:「鬚閑提!猶如生盲,從有目人聞T 0672b09其所說:『白淨無垢,白淨無垢。』彼聞此已,便求T 0672b10白淨。有諂誑人而不為彼求利及饒益,求T 0672b11安隱快樂,則以垢膩不淨之衣,持往語曰:『汝T 0672b12當知之,此是白淨無垢之衣,汝以兩手敬T 0672b13受被身。』彼盲子喜,即以兩手敬受被身而T 0672b14作是說:『白淨無垢,白淨無垢。』鬚閑提!彼人T 0672b15為自知說,為不知說?為自見說,為不見T 0672b16說?」
鬚閑提異學答曰:「瞿曇!如是說者,實不知T 0672b17見。」
世尊語曰:「如是。鬚閑提!如盲無目,身即T 0672b18是病、是癰、是箭、是蛇、是無常、是苦、是空、是非T 0672b19神,以兩手抆摸而作是說:『瞿曇!此是無T 0672b20病,此是涅槃。』鬚閑提!汝尚不識於無病,何T 0672b21況知見於涅槃耶?言知見者,終無是處。鬚T 0672b22閑提!如來、無所著、等正覺說:
T 0672b23
「無病第一利, 涅槃第一樂,T 0672b24
諸道八正道, 住安隱甘露。
T 0672b25「彼眾多人並共聞之,眾多異學聞此偈已,T 0672b26展轉相傳,不能知義。彼既聞已,而欲求教,T 0672b27彼並愚癡,還相欺誑。彼自現身四大之種,從T 0672b28父母生,飲食所長,常覆按摩澡浴,強忍、破T 0672b29壞、磨滅,離散之法。然見神受神,緣受則有,緣T 0672c01有則生,緣生則老死,緣老死則愁慼啼哭、T 0672c02憂苦懊惱,如是此生純大苦陰。」
於是,鬚閑提T 0672c03異學即從坐起,偏袒著衣,叉手向佛,白曰:T 0672c04「瞿曇!我今極信沙門瞿曇!唯願瞿曇善為說T 0672c05法,令我得知此是無病,此是涅槃。」
世尊告T 0672c06曰:「鬚閑提!若汝聖慧眼未淨者,我為汝說T 0672c07無病、涅槃,終不能知,唐煩勞我。鬚閑提!猶T 0672c08生盲人,因他往語:『汝當知之,此是青色,黃、T 0672c09赤、白色。』鬚閑提!彼生盲人頗因他說,知是T 0672c10青色、黃、赤、白色耶?」
答世尊曰:「不也。瞿曇!」
「如T 0672c11是。鬚閑提!若汝聖慧眼未淨者,我為汝說T 0672c12無病、涅槃,終不能知,唐煩勞我。鬚閑提!我T 0672c13為汝說如其像妙藥,令未淨聖慧眼而得T 0672c14清淨。鬚閑提!若汝聖慧眼得清淨者,汝便T 0672c15自知此是無病,此是涅槃。鬚閑提!猶生盲人,T 0672c16有諸親親為彼慈愍,求利及饒益,求安隱T 0672c17快樂故,為求眼醫,彼眼醫者與種種治,或T 0672c18吐或下,或灌於鼻,或復灌下,或刺其脉,或T 0672c19令淚出。鬚閑提!儻有此處,得淨兩眼。鬚閑T 0672c20提!若彼兩眼得清淨者,則便自見此是青色,T 0672c21黃、赤、白色,見彼垢膩不淨之衣,便作是念:T 0672c22『彼即怨家,長夜則以垢膩之衣欺誑於我。』便T 0672c23有憎心。鬚閑提!此人儻能殺害於彼。如是,T 0672c24鬚閑提!我為汝說如其像妙藥,令未淨聖T 0672c25慧眼而得清淨。鬚閑提!若汝聖慧眼得淨T 0672c26者,汝便自知此是無病,此是涅槃。
「鬚閑提!T 0672c27有四種法,未淨聖慧眼而得清淨。云何為T 0672c28四?親近善知識,恭敬、承事,聞善法,善思惟,T 0672c29趣向法次法。鬚閑提!汝當如是學,親近T 0673a01善知識,恭敬、承事,聞善法,善思惟,趣向法T 0673a02次法。鬚閑提!當學如是。鬚閑提!汝親近T 0673a03善知識,恭敬、承事已,便聞善法,聞善法已,T 0673a04便善思惟,善思惟已便趣向法次法,趣向T 0673a05法次法已,便知此苦如真,知此苦習、知此T 0673a06苦滅、知此苦滅道如真。
「云何知苦如真?謂T 0673a07生苦、老苦、病苦、死苦、怨憎會苦、愛別離苦、所T 0673a08求不得苦、略五盛陰苦,如是知苦如真。云T 0673a09何知苦習如真?謂此愛當受未來有,與喜T 0673a10欲俱,願彼彼有,如是知苦習如真。云何T 0673a11知苦滅如真?謂此愛當受未來有,與喜欲T 0673a12俱,願彼彼有滅、無餘、斷、捨、吐、盡、無欲、沒、息止,T 0673a13如是知苦滅如真。云何知苦滅道如真?謂T 0673a14八支聖道,正見乃至正定,是謂為八,如是T 0673a15知苦滅道如真。」
說此法已,鬚閑提異學遠T 0673a16塵離垢,諸法法眼生。於是,鬚閑提異學見法T 0673a17得法,覺白淨法,斷疑度惑,更無餘尊,不T 0673a18復從他,無有猶豫,已住果證,於世尊法T 0673a19得無所畏。即從座起,稽首佛足,白曰:「世T 0673a20尊!願令我得出家學道,受具足,得比丘。」
T 0673a21世尊告曰:「善來比丘!修行梵行。」
鬚閑提異T 0673a22學即是出家學道,受具足,得比丘。鬚閑提T 0673a23出家學道,受具足,知法已,至得阿羅訶。
佛T 0673a24說如是。尊者鬚閑提聞佛所說,歡喜奉行。
T 0673a25
鬚閑提經第二竟(四千一百二十一字)
T 0673a26
中阿含經卷第三十八(八千六百六十二字)
Introduction
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha traveled to Kuru and was staying in Bhāradvāja’s most quiet abode, sitting on a straw seat there.
SC 2After the night had passed and the sun rose, the Buddha put on his robe and took his bowl into Kalmāṣadamya to walk the alms round. He returned in the afternoon when his meal was finished, put away his robe and bowl, and washed his hands and feet. He put his sitting mat over his shoulder and went out to a forest where he would spend the day practicing. The Bhagavān entered that forest, spread out his sitting mat under a tree, and sat cross-legged there.
SC 3Just then, the heretic Sugandika was out wandering in the afternoon, and he went to Bhāradvāja’s most quiet abode, too. Sugandika saw from a distance that there was a straw seat spread out at Bhāradvāja’s most quiet abode where someone had lain on their side like a lion, an ascetic, or a religious practitioner. After seeing that, Sugandika asked, “Who’s straw seat is this here at Bhāradvāja’s most quiet abode? They have lain there on their side like a lion, an ascetic, or a religious practitioner.”
SC 4The priest Bharadvāja replied, “Sugandika, it’s the ascetic Gautama of the Śākyans, who renounced his Śākya clan, cut off his hair and beard, put on the reddish-brown robes, became faithful, left home, went homeless, and trained on the path. He awakened to the unsurpassed, correct, and complete awakening. It’s his straw seat here at our most quiet abode where someone had lain on their side like a lion, an ascetic, or a religious practitioner.”
SC 5Sugandika said, “Bharadvāja, I see what can’t be seen, and I hear what can’t be heard. That is, I see where that ascetic Gautama has lain. Why is that? That ascetic Gautama has destroyed the ground. Someone who destroys the ground is of no use.”
SC 6Bharadvāja said, “Sugandika, you shouldn’t criticize that ascetic Gautama on this account. Why is that? The ascetic Gautama has many wise people, wise warriors, wise priests, wise householders, and wise ascetics. When he teaches those wise people, they attain noble knowledge.
SC 7“Sugandika, I’d like to tell that ascetic Gautama about this. Would that be all right?”
SC 8Sugandika said, “Bharadvāja, if you want to tell him, then do what you like. I have no objection. Bharadvāja, if I were to see that ascetic Gautama, I would tell him that, too. Why is that? That ascetic Gautama has destroyed the ground. Someone who destroys the ground is of no use.”
SC 9The Bhagavān was at his daytime practice spot at the time. He overheard the priest Bharadvāja and the heretic Sugandika having this conversation using the purified heavenly ear that goes beyond that of humans. Having heard them, he rose from his seat of repose late in the afternoon and went to the priest Bhāradvāja’s most quiet abode. He spread out his sitting mat on his straw seat there and sat cross-legged.
SC 10Bharadvāja had seen the Bhagavān among the trees in the distance. He was sitting upright and looked beautiful like the moon among the stars. His brilliant splendor shined like a mountain of gold. Replete with the signs and excellencies, his majesty was awe-inspiring. His face was peaceful and settled. Nothing could obstruct him. He had accomplished the training, and his stilled mind was quiet. Having seen this, Bharadvāja approached the Buddha, exchanged polite greetings with him, and withdrew to sit at one side.
SC 11The Bhagavān asked him, “Bharadvāja, did you have a conversation with the heretic Sugandika about this straw seat?”
The priest Bharadvāja answered, “Yes, Gautama. I was going to tell the ascetic Gautama about what happened, but he already knows about it before I could! Why is that? Because he’s the Tathāgata, the Arhat, and the Completely Awakened One.”
The Well Trained
SC 12The Bhagavān and Bharadvāja then discussed what had happened. Later, Sugandika was out wandering and paid a visit to Bhāradvāja’s most quiet abode. Seeing him coming from a distance, the Bhagavān said this: “Sugandika, someone who doesn’t train his eye faculty, who doesn’t guard or cultivate himself, will surely experience a painful result. ‘The ascetic Gautama is someone who trains himself well, guards and cultivates himself well, so he surely gets a pleasant result.’ Sugandika, was this the reason you said the ascetic Gautama destroys the ground, that someone who destroys the ground is of no use?”
Sugandika replied, “Yes, Gautama.”
SC 13“Thus, Sugandika, someone who doesn’t train their ear … nose … tongue … body … doesn’t train their mind faculty, who doesn’t guard and cultivate themselves, will surely experience a painful result. ‘The ascetic Gautama trains himself well, guards and cultivates himself well, so he surely gets a pleasant result.’ Sugandika, was this the reason you said the ascetic Gautama destroys the ground, that someone who destroys the ground is of no use?”
Sugandika answered, “Yes, Gautama.”
Ordinary Desires
SC 14The Bhagavān asked him, “Sugandika, what do you think? Suppose that someone has yet to leave home and train on the path. Their eye recognizes forms that are lovely, wished for, and associated with what’s desirable. Sometime later, they abandon those forms that their eye recognizes. They cut off their hair and beard, put on the reddish-brown robes, become faithful, leave home, go homeless, and train on the path. Truly seeing the formation, cessation, enjoyment, danger, and escape of forms that their eye recognizes, they wander with an inner calm.
SC 15“Suppose they see another person who has yet to part with desire for forms. They’re eaten by the craving for forms and burned by a fever for forms. Their eye recognizes forms that are lovely, wished for, and associated with what’s desirable. When they see this person pursuing [forms], they don’t praise that, nor are they delighted by that.
SC 16“Sugandika, what do you think? Suppose someone possesses these pleasures that are caused by craving and forms. When they’re enjoying these pleasures, they don’t praise that because it’s contemptible, nor is it a delight to them because it’s contemptible. Sugandika, would you have something to say to them?”
He replied, “No, Gautama.”
SC 17“Sugandika, what do you think? Suppose someone has yet to leave home and train on the path. Thus, their ear recognizes sounds … their nose recognizes smells … their tongue recognizes flavors … their body recognizes touches that are lovely, wished for, and associated with what’s desirable. Sometime later, they abandon touches that their body recognizes. They cut off their hair and beard, put on the reddish-brown robes, become faithful, leave home, go homeless, and train on the path. Truly seeing the formation, cessation, enjoyment, danger, and escape of touches that their body recognizes, they live with an inner calm.
SC 18“Suppose they see another person who has yet to part with desire for touches. They’re eaten by the craving for touches and burned by a fever for touches. Their body recognizes touches that are lovely, wished for, and associated with what’s desirable. When they see this person pursuing [touches], they don’t praise that, nor are they delighted by that.
SC 19“Sugandika, what do you think? Suppose someone possesses these pleasures that are caused by craving and touches. When they’re enjoying these pleasures, they don’t praise that because it’s contemptible, nor is it a delight to them because it’s contemptible. Sugandika, would you have something to say to them?”
He replied, “No, Gautama.”
The Five Merits of Desire
SC 20“Sugandika, what do you think? Suppose someone has yet to leave home and train on the path. The five merits of desire are lovely, wished for, and associated with what’s desirable. Sometime later, they abandon those five merits of desire. They cut off their hair and beard, put on the reddish-brown robes, become faithful, leave home, go homeless, and train on the path. Truly seeing the formation, cessation, enjoyment, danger, and escape of the five merits of desire, they live with an inner calm.
SC 21“Suppose they see another person who has yet to part with desire. They’re eaten by the craving for desires and burned by a fever for desires. The five merits of desire are lovely, wished for, and associated with what’s desirable. When they see this person pursuing [desires], they don’t praise that, nor are they delighted by that.
SC 22“Sugandika, what do you think? Suppose someone possesses these pleasures that are caused by desire and craving for desires. When they’re enjoying these pleasures, they don’t praise that because it’s contemptible, nor is it a delight to them because it’s contemptible. Sugandika, would you have something to say to them?"
He replied, “No, Gautama.”
SC 23“Sugandika, before I left home and trained on the path, I could get the five merits of desire easily, not with difficulty. They were lovely, wished for, and associated with what’s desirable. Sometime later, I abandoned the five merits of desire. I cut off my hair and beard, put on the reddish-brown robes, became faithful, left home, went homeless, and trained on the path. Truly seeing the formation, cessation, enjoyment, danger, and escape of the five merits of desire, I lived with an inner calm.
SC 24“I saw another person who had yet to part with desire. They were eaten by the craving for desires and burned by a fever for desires. The five merits of desire were lovely, wished for, and associated with what’s desirable. When I saw this person pursuing [desires], I didn’t praise that, nor was I delighted by that.
SC 25“Sugandika, what do you think? Suppose someone possesses these pleasures that are caused by desires and craving for desires. When they’re enjoying these pleasures, I don’t praise that because it’s contemptible, nor is it a delight to me because it’s contemptible. Sugandika, would you have something to say to me?”
He answered, “No, Gautama.”
The Heavenly Five Merits of Desire
SC 26The Bhagavān told him, “Sugandika, take the example of a householder or a householder’s son who’s extremely prosperous, whose wealth is measureless. Many are his grazing pastures, residences, and districts, and his means of living are diverse and abundant. He obtains the five desires easily, not with difficulty. He achieves marvelous physical conduct … verbal conduct … marvelous mental conduct. When he’s about to die, he doesn’t enjoy the five merits of desire and abandons them. When his body breaks up and his life ends, he ascends afterward to a good destination, being born up in Heaven. There, he’s endowed with and roams in the five merits of desire.
SC 27“Sugandika, would this god or son of a god rather abandon the five heavenly merits of desire? Would he rejoice when remembering his enjoyment of human desires?”
SC 28“He answered, “No, Gautama. Why would that be? Human desires are a foul place that’s impure. It would be detestable, unapproachable, horrible, and very painful to his mind. Gautama, the desires in Heaven are so much higher, more marvelous and superior, than human desires. It would never happen that this god or son of a god would abandon the five merits of desire up in Heaven or rejoice when remembering his enjoyment of human desires.”
SC 29“So it is, Sugandika. I ended human desires and went beyond the desires in Heaven. I cut off my hair and beard, put on the reddish-brown robes, became faithful, left home, went homeless, and trained on the path. Truly seeing the formation, cessation, enjoyment, trouble, and escape of the five merits of desire, I lived with an inner calm.
SC 30“I saw another person who had yet to part with desire. They were eaten by the craving for desires and burned by a fever for desires. The five merits of desire were lovely, wished for, and associated with what’s desirable. When I saw this person pursuing [desires], I didn’t praise that, nor was I delighted by that.
SC 31“Sugandika, what do you think? Suppose someone possesses these pleasures that are caused by desire and craving for desires. When they’re enjoying these pleasures, I don’t praise that because it’s contemptible, nor is it a delight to me because it’s contemptible. Sugandika, would you have something to say to me?”
“No, Gautama.”
The Parable of the Deluded Leper
SC 32The Bhagavān told him, “Sugandika, take the example of someone afflicted with leprosy. Their body festers and is eaten by worms. They scratch open their sores and hold them over burning coals. Sugandika, what do you think? Suppose that leper’s body festers and is eaten by worms. They scratch open their sores and hold them over burning coals. Would they rather have the ability to rid themselves of their illness, for their limbs to be uninjured, and to be freed from leprosy? Wouldn’t they rather their body were whole, restored, and returned to how it was originally?”
He replied to the Bhagavān, “No, Gautama.”
SC 33“Thus, Sugandika, that leper’s body festers and is eaten by worms. They scratch open their sores and hold them over burning coals. In this way, the sores that arise increase in number, and his original sores grow larger. Still, that person considers those sores of leprosy to be pleasant.
SC 34“Thus, Sugandika, are sentient beings who have yet to part with desire. They are eaten by the craving for desires and burned by a fever for desires, but they pursue those desires. In this way, their desires increase in number, and their craving for desires becomes larger. Still, they consider that craving for desires to be pleasant.
SC 35“If they don’t end their desire and don’t part with the craving for desires, it’ll never happen that they’ll have an inner calm in their past, future, and present travels. Why is that? It would make no sense for them to roam in desires when they’ve ended desire and parted with craving for desires.”
The Parable of the Indulgent King
SC 36The Bhagavān told him, “Sugandika, take the example of a king or great minister who obtains the five desires easily, not with difficulty. If he doesn’t end his desire and part with the craving for desires, it’ll never happen that he’ll have an inner calm in his past, future, or present travels. Why is that? It would make no sense for him to roam in desires when he has ended desire and parted with craving for desires.
SC 37“Thus, Sugandika, sentient beings who have yet to part with desire are eaten by the craving for desires and burned by a fever for desires, but they pursue those desires. Sugandika, suppose sentient beings have yet to part with desire, are eaten by their craving for desires, and are burned by their fever for desires. In this way, their desires increase in number, and their craving for desires becomes larger, but they consider the craving of desires to be pleasant.
SC 38“If they don’t end their desire and don’t part with the craving of desires, it’ll never happen that they’ll have an inner calm in their past, future, and present travels. Why is that? It would make no sense for them to roam in desires when they’ve ended desire and parted with craving for desires.
The Parable of the Cured Leper
SC 39“Sugandika, it’s like the leper whose body festers and is eaten by worms. They scratch open their sores and hold them over burning coals. Someone who sympathizes and pities the leper tries help and benefit them, tries to bring them well-being and happiness. To that end, they give the leper an excellent medicine. Having given them that excellent medicine, the leper gets the ability to rid themselves of disease, for their limbs to be uninjured. Freed from leprosy, their body is made whole, restored, and returned to how it was originally.
SC 40“Suppose they then see another person afflicted with leprosy whose body is festering and eaten by insects. They scratch open their sores and hold them over burning coals. Sugandika, having seen that person, would they rather wish for, praise, or rejoice in [that medicine] again?”
He answered, “No, Gautama. Why is that? Someone sick needs medicine, but someone healthy doesn’t.”
SC 41“Sugandika, what do you think? Suppose that leper gets the ability to rid themselves of disease, for their limbs to be uninjured. Freed from leprosy, their body is made whole, restored, and returned to how it was originally. Then, two strong men seize them and hold them over burning coals. In the confusion of trying to escape, their body is burned again. Sugandika, what do you think? Wouldn’t those burning coals have been hotter, more painful, and grievous before rather than now?”
SC 42He replied, “No, Gautama. Before, that person was afflicted with leprosy. Their body was festering and eaten by worms. They scratched open their sores and held them over burning coals. Touching that painful fire was a pleasant experience. Their mind was deranged, so they had a mistaken perception of it.
SC 43“Gautama, that person got the ability to rid themselves of disease, for their limbs to be uninjured. Freed from leprosy, their body was made whole, restored, and returned to how it was originally. Now, touching that painful fire would be a painful experience. Their mind would be at peace, and they’d have an unmistaken perception of it.”
SC 44“Sugandika, [those sentient beings are] like that leper whose body was festering and eaten by worms. They scratched open their sores and held them over burning coals. Touching that painful fire was a pleasant experience. Their mind was deranged, and they had a mistaken perception of it.
SC 45“Thus, Sugandika, are sentient beings who aren’t free of desires. They’re eaten by the craving for desires and burned by a fever for desires, but they pursue those desires. They perceive those painful desires as pleasant desires. Their minds are deranged, and they have mistaken perception of them.
The Buddha Was Like the Cured Leper
SC 46“Sugandika, take the example of the person who gets the ability to rid themselves of disease, for their limbs to be uninjured. Freed from leprosy, their body is made whole, restored, and returned to how it was originally. Touching that painful fire would be a painful experience. Their mind would be at peace, and they would have an unmistaken perception of it.
SC 47“Thus, Sugandika, I perceived those painful desires as painful desires, having gotten the true and unmistaken perception of them. Why is that? In the past, Sugandika, I desired an impure and foul place. My thinking was quite polluted and unapproachable, and I loathed painful contact. In the future and present, I desired an impure and foul place. My thinking was quite polluted and unapproachable, and I loathed painful contact.
Being Healthy and Nirvāṇa
SC 48“Sugandika, the Tathāgata, Arhat, and Completely Awakened One teaches: ‘Being healthy is the supreme blessing, and Nirvāṇa is the supreme happiness.’”
SC 49The heretic Sugandika said to the Bhagavān, “Gautama, I’ve trained for a long time in the religious practice with virtuous and senior elders. I’ve heard this from them: ‘Being healthy is the supreme blessing, and Nirvāṇa is the supreme happiness.’”
SC 50The Bhagavān asked, “Sugandika, so you’ve trained for a long time in the religious practice with virtuous and senior elders, and you’ve heard this from them: ‘Being healthy is the supreme blessing, and Nirvāṇa is the supreme happiness.’ Sugandika, what is ‘being healthy,’ and what is ‘Nirvāṇa’?”
Sugandika’s body was then an illness, a tumor, an arrow, a serpent, something impermanent, a pain, something empty, and not the soul. He rubbed it with both hands and said this: “Gautama, this is being healthy! This is Nirvāṇa!”
The Parable of the Tricked Blind Person
SC 51The Bhagavān said, “Sugandika, take for example a person born blind who hears someone with eyesight say: ‘It’s clean and immaculate! It’s clean and immaculate!’ Having heard this, they look for something that’s clean. Then, there’s a deceiver seeking their own safety and happiness and not the profit and gain of others. They bring the blind person filthy and impure clothes, saying, ‘You should know that these are clean and immaculate clothes. Kindly take them and put them on.’ The blind person is elated. They take the clothes kindly in both hands and put them on. The blind person then says, ‘It’s clean and immaculate! It’s clean and immaculate!’
SC 52“Sugandika, did that blind person know what he was saying, or did he not know? Did he see what he was saying, or did he not see it?”
Sugandika answered, “Gautama, someone who speaks in this way doesn’t really know and see it.”
SC 53The Bhagavān said, “In this way, Sugandika, you are a blind man without eyes. This body is an illness, a sore, an arrow, a serpent, something impermanent, a pain, something empty, and not the soul that you rub with both hands and say, ‘Gautama, this is being healthy! This is Nirvāṇa!’
SC 54“Sugandika, you’re not even aware of being healthy, so how could you know and see Nirvāṇa? It would never be possible to call that ‘knowing and seeing.’ Sugandika, the Tathāgata, Arhat, and Completely Awakened One says:
“‘Good health is the supreme blessing,
And Nirvāṇa is the supreme happiness.
Of all paths, it’s the noble eightfold path
That stands in the safety of the immortal.’"
SC 55There was a crowd of people listening to them. After they heard this verse, that group of heretics turned it over and repeated it to each other, but they couldn’t understand what it meant. Having heard it, they wanted to pursue that teaching, but they were all fools and returned to deceiving each other.
SC 56Their own present bodies were made of the four basic elements, had been born from parents, raised by food, always being sheltered, rubbed, and bathed. They were forced to endure its deteriorating, eroding, and dispersing nature, but they saw a soul and clung to that soul. Conditioned by clinging, then there was existence. Conditioned by existence, there was birth. Conditioned by birth, there was old age and death. Conditioned by old age and death, there was grief, lamentation, misery, and trouble. In this way, the whole mass of suffering arose.
Clarifying the Dharma Eye
SC 57Thereupon, the heretic Sugandika rose from his seat, bared one shoulder, and addressed the Buddha with his palms together, “Gautama, I now have the utmost belief in the ascetic Gautama! Please, Gautama, teach the Dharma well! Make me able to understand: ‘This is being heathy. This is Nirvāṇa.’”
SC 58The Bhagavān said, “Sugandika, if your noble wisdom eye isn’t clear yet, you’ll never be able to understand my teaching about heath and Nirvāṇa, and that would be troublesome for me. Sugandika, it would be like a man born blind who causes someone else to go and say, ‘You should know, this is the color blue … yellow … red … the color white.’ Sugandika, could a man born blind cause someone else to say: ‘I know the color blue … yellow … red … color white’?”
He answered, “No, Gautama.”
SC 59“So it is, Sugandika. If your noble wisdom eye isn’t clear yet, you’ll never be able to understand my teaching about health and Nirvāṇa, and that would be troublesome to me.
SC 60“Sugandika, I’ll teach you about something that’s like a marvelous medicine, which will cause your noble wisdom eye to become clear. Sugandika, if your noble wisdom eye becomes clear, you’ll be able to understand for yourself: ‘This is good heath. This is Nirvāṇa.’ Sugandika, [you’d be] like a man born blind who has relatives who care about him. Seeking profit and gain for him and seeking his safety and happiness, they find an eye doctor, and the doctor gives him a variety of treatments. Some are purgatives, some are laxatives. Some are nasal irrigations, some are enemas. Sometimes, his veins are pierced; sometimes, they make his tears flow.
SC 61“Sugandika, this being the case, both his eyes become clear. Sugandika, if both his eyes become clear, then he can see for himself, ‘This is the color blue … yellow … red … the color white.’ He can also see, ‘Those clothes are filthy and impure.’ Then he thinks, ‘That deceiver was not my friend who fooled me with these filthy clothes for so long.’ Then he has a thought of hatred for that deceiver. Sugandika, perhaps the person then kills that deceiver.
SC 62“In this way, Sugandika, I will teach you something that’s like a marvelous medicine, which will cause your noble wisdom eye to become clear. Sugandika, if your noble wisdom eye becomes clear, then you’ll be able to know for yourself, ‘This is good health. This is Nirvāṇa.’
SC 63“Sugandika, there are four things that can clarify the noble wisdom eye that isn’t clear yet. What are the four? Being close to good friends, paying respects and performing duties, hearing the good Dharma and considering it well, and going from one thing to the next. Sugandika, you should thus train: Be close to good friends, pay respects and perform duties, hear the good Dharma and consider it well, and go from one thing to the next. Sugandika, you should train in this way.
SC 64“Sugandika, once you’ve been close to good friends and paid respects and performed duties, then you’ll hear the good Dharma. Having heard the good Dharma, then consider it well. Having considered it well, then go from one thing to the next. Having gone from one thing to the next, then you’ll truly know, ‘This is suffering.’ You’ll [truly] know, ‘This is suffering’s formation.’ You’ll [truly] know, ‘This is suffering’s cessation.’ You’ll truly know, ‘This is the path to suffering’s cessation.’
The Four Noble Truths
SC 65“How does one truly know suffering? ‘It’s the suffering of birth, suffering of old age, suffering of illness, suffering of death, suffering of associating with enemies, suffering of parting with loved ones, and suffering of not getting what’s wanted. In brief, it’s the suffering of the five aggregates.’ Suffering is truly known in this way.
SC 66“How does one truly know the formation of suffering? ‘This craving will bring a future existence. Please let there be this or that existence in the company of delight and desire.’ Suffering’s formation is truly known in this way.
SC 67“How does one truly know the cessation of suffering? ‘This craving will bring a future existence. Please let this or that existence in the company of delight and desire cease without remainder, end, be abandoned, rejected, exhausted, disappear, and stop.’ Suffering’s cessation is truly known in this way.
SC 68“How does one truly know the path to the cessation of suffering? ‘This is the eightfold noble path. The eight are right view … right samādhi.’ The path to suffering’s cessation is truly known in this way.”
The Liberation of Sugandika
SC 69Once he was taught this Dharma, the heretic Sugandika became far removed from dust and free of dirt, and the Dharma eye arose in him. Thereupon, Sugandika saw the Dharma and got the Dharma. He awakened to the clean Dharma, ended doubt, and was freed from confusion. He had no more recourse to sages and didn’t follows others. Not emulating anyone, he lived in realization of the fruit and attained confidence in the Bhagavān’s Dharma. He then rose from his seat, bowed at the Buddha’s feet, and said, “Bhagavān, please allow me to leave home as a trainee on the path, be accepted fully, and become a monk.”
SC 70The Bhagavān told him, “Welcome, monk! Cultivate the religious practice!”
SC 71The heretic Sugandika then left home and trained on the path, was accepted fully, and became a monk. After leaving home, training on the path, being accepted fully, and knowing the Dharma, Sugandika became an arhat.
SC 72The Buddha spoke thus. When Venerable Sugandika heard what the Buddha taught, he rejoiced and approved.
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại Câu-lâu-sấu, trú ở tịnh thất đệ nhất của Bà-la-bà trên một đệm cỏ.
Bấy giờ vào lúc sáng sớm, Đức Thế Tôn mang y, cầm bát vào Kiếm-ma-sắt-đàm, tuần tự khất thực. Sau buổi cơm trưa, thu dọn y bát, rửa tay chân, Ngài vắt tọa cụ lên vai đi đến chỗ nghỉ ban ngày tại một khu rừng. Khi đã vào rừng, Đức Thế Tôn đến dưới một gốc cây, trải tọa cụ và ngồi kiết già.
Lúc ấy vào buổi xế trưa, Dị học Man-nhàn-đề thong dong, tản bộ đến Đệ nhất tịnh thất của Bà-la-bà. Từ xa Dị học Man-nhàn-đề thấy trên sàn rải cỏ ở tịnh thất ấy có dấu nằm một bên hông, như chỗ nằm của sư tử, của Sa-môn, của đồng phạm hạnh. Trông thấy vậy, Dị học Man-nhàn-đề hỏi Bà-la-bà:
“Trong Đệ nhất tịnh thất ấy, sàn cỏ có dấu nằm một bên hông này của ai mà giống như chỗ nằm của sư tử, của Sa-môn, của đồng phạm hạnh như thế?”
Bà-la-môn Bà-la-bà đáp:
“Này Man-nhàn-đề, có Sa-môn Cù-đàm con dòng họ Thích, từ bỏ Thích tộc, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, đắc quả Vô thượng Chánh đẳng giác. Ở trong tịnh thất đó, sàn cỏ có dấu nằm một bên hông đó, như chỗ nằm của sư tử, của Sa-môn, của đồng phạm hạnh chính là của Sa-môn Cù-đàm.”
Dị học Man-nhàn-đề nói:
“Này Bà-la-bà, tôi nay phải thấy cảnh không đáng thấy, phải chấp thuận điều không đáng nghe; nghĩa là phải thấy chỗ nằm của Sa-môn Cù-đàm. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm ấy là kẻ phá hoại. Kẻ phá hoại là kẻ vô dụng.
Bà-la-bà nói:
“Này Man-nhàn-đề, ông không nên đem điều đó mà phỉ báng Sa-môn Cù-đàm. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm có nhiều trí tuệ, Sát-lị trí tuệ, Bà-la-môn trí tuệ, Cư sĩ trí tuệ, Sa-môn trí tuệ. Ai giảng thuyết về trí tuệ thảy đều đắc Thánh trí. Này Man-nhàn-đề, tôi muốn đem ý nghĩa đó mà nói với Sa-môn Cù-đàm có được chăng?”
Man-nhàn-đề đáp:
“Này Bà-la-bà, tùy ý ông. Tôi thấy không gì trở ngại. Này Bà-la-bà, nếu gặp Sa-môn Cù-đàm, tôi cũng nói như thế. Vì sao? Vì Sa-môn Cù-đàm là kẻ phá hoại. Kẻ phá hoại là kẻ vô dụng.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn ở chỗ nghỉ trưa với thiên nhĩ thanh tịnh, vượt hẳn người thường, nghe Bà-la-môn Bà-la-bà cùng Dị học Man-nhàn-đề đang bàn luận chuyện ấy. Nghe xong, vào lúc xế chiều, Thế Tôn từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy, đi đến Đệ nhất tịnh thất của Bà-la-bà, trải tọa cụ lên đệm cỏ, rồi ngồi kiết già. Bà-la-môn Bà-la-bà từ xa trông thấy Thế Tôn ở giữa rừng cây, trang nghiêm, đẹp đẽ, như vầng trăng giữa vòm trời sao, chói lọi rạng ngời, tỏa chiếu như núi vàng, đầy đủ tướng tốt, oai thần nguy nguy, các căn vắng lặng, không bị chướng ngại, thành tựu điều ngự, nội tâm tĩnh chỉ, tịnh mặc. Sau khi trông thấy, Bà-la-môn ấy đi đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi nhau rồi ngồi qua một bên.
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Bà-la-bà, ông đã cùng với Man-nhàn-đề bàn luận về chỗ đệm cỏ này phải chăng?”
Bà-la-môn Bà-la-bà đáp:
“Đúng như vậy, bạch Cù-đàm. Con cũng định đem chuyện đó thưa với Cù-đàm, nhưng chưa nói kịp mà Cù-đàm đã biết. Vì sao? Vì Như Lai là Bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.”
Đức Thế Tôn và Bà-la-môn Bà-la-bà cùng nhau thảo luận về vấn đề này. Sau đó, Dị học Man-nhàn-đề tản bộ đến Đệ nhất tịnh thất ấy. Từ xa, Đức Thế Tôn trông thấy Dị học Man-nhàn-đề đến, liền bảo:
“Này Man-nhàn-đề, không chế ngự nhãn căn, không thủ hộ kín đáo, không tu, thì chắc chắn thọ khổ báo. Đối với nhãn căn ấy, Cù-đàm khéo chế ngự, khéo thủ hộ kín đáo, khéo tu, nên chắc chắn được lạc báo. Này Man-nhàn-đề, có phải vì nhân ấy mà ông bảo rằng, ‘Sa-môn Cù-đàm là kẻ phá hoại. Kẻ phá hoại là kẻ vô dụng’?”
Man-nhàn-đề trả lời:
“Đúng như vậy, Cù-đàm.”
“Này Man-nhàn-đề, cũng vậy, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý căn; nếu không chế ngự ý căn, không thủ hộ kín đáo, không khéo tu, thì chắc chắn thọ khổ báo. Đối với ý căn ấy, Cù-đàm khéo chế ngự, khéo thủ hộ kín đáo, khéo tu, nên chắc chắn được lạc báo. Này Man-nhàn-đề, có phải vì nhân đó mà ông bảo rằng, ‘Sa-môn Cù-đàm là kẻ phá hoại. Kẻ phá hoại là kẻ vô dụng’?”
Man-nhàn-đề đáp:
“Đúng như vậy, Cù-đàm.”
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Người khi chưa xuất gia học đạo, với con mắt, vị ấy biết sắc khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc, tương ưng với dục. Một thời gian sau, vị ấy xả bỏ sắc được biết bởi mắt, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo. Vị ấy thấy, biết như thật về sự tập khởi của sắc được biết bởi mắt, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai họa, sự xuất yếu của sắc ấy, an trú với nội tâm tịch tĩnh. Vị ấy thấy những người chưa ly sắc dục, bị sự ham muốn sắc nhai nuốt, bị hơi nóng của sắc thiêu đốt; đối với sắc, được biết bởi mắt khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc, tương ưng với dục, sau khi an trụ mà thấy như vậy, vị ấy không thỏa mãn, không ham thích. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Nếu có lạc thú, do ái, do sắc, mà khi hoan lạc trong lạc thú này, vì chúng thấp hèn, cho nên không thỏa mãn chúng, vì chúng thấp hèn cho nên không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, đối với người này, ông có nói gì chăng?”
“Dạ không, thưa Cù-đàm.”
“Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Người khi chưa xuất gia cũng vậy đối với tiếng được biết bởi tai, hương được biết bởi mũi, vị được biết bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân, khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc tương ưng với dục. Một thời gian sau, vị ấy xả bỏ xúc được biết bởi thân, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo; vị ấy biết và thấy như thật về sự tập khởi của xúc, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai hoạn, sự xuất yếu của xúc, an trú nơi nội tâm tịch tĩnh; vị ấy thấy những người chưa ly xúc,dục, bị sự ham muốn xúc nhai nuốt, bị hơi nóng của xúc thiêu đốt; đối với xúc được biết bởi thân khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc, tương ưng với dục; sau khi an trụ mà thấy như vậy, vị ấy không thỏa mãn, không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào, nếu có lạc thú do ái, do xúc này, thì khi hoan lạc trong lạc thú này, vì chúng thấp hèn cho nên không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề đối với người này, ông có nói gì chăng?”
“Dạ không, thưa Cù-đàm.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Người khi chưa xuất gia học đạo, thấy năm công đức của dục khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc tương ưng với dục. Một thời gian sau, người ấy xả bỏ năm công đức của dục, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, thấy như thật về sự tập khởi của năm công đức của dục, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai họa, sự xuất yếu của năm công đức của dục, an trú với nội tâm tịch tĩnh. Vị ấy thấy những người chưa ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt; đối với năm công đức của dục khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc, tương ưng với dục, sau khi an trụ mà thấy như vậy, vị ấy không thỏa mãn, không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Nếu có lạc thú do dục, do dục ái này, khi hoan lạc trong lạc thú này, vì chúng thấp hèn cho nên không thỏa mãn chúng, vì chúng thấp hèn cho nên không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, đối với người này, ông có nói gì chăng?”
“Dạ không, thưa Cù-đàm.”
“Này Man-nhàn-đề, Ta khi chưa xuất gia học đạo, hưởng thụ năm công đức của dục, dễ được, không khó, khả ái, khả niệm, khả ý, khã lạc, tương ưng với dục. Sau đó Ta xả bỏ năm công đức của dục, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo. Ta thấy như thật về sự tập khởi của năm công đức của dục, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai hoạn và xuất yếu của năm công đức của dục, an trú với nội tâm tịch tĩnh. Ta thấy những người chưa ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt; đối với năm công đức của dục khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc, tương ưng với dục, sau khi an trụ mà thấy như vậy, Ta không thỏa mãn chúng, không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Nếu có lạc thú do dục, do dục ái này, khi hoan lạc trong lạc thú này, vì chúng thấp hèn nên Ta không thỏa mãn chúng, vì chúng thấp hèn cho nên Ta không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, đốùi với Ta, ông có nói gì chăng?”
“Dạ không, thưa Cù-đàm.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Man-nhàn-đề, cũng như cư sĩ, hay con của cư sĩ, rất giàu, của cải vô lượng, nuôi nhiều súc vật, phong hộ, thực ấp đầy đủ các thứ cần cho sự sống; người ấy hưởng năm công đức của dục, dễ được không khó, lại thành tựu thân diệu hành, khẩu và ý diệu hành; lúc chết, không muốn xả bỏ năm công đức của dục; sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ thiện; sanh lên cõi trời, hưởng đầy đủ năm công đức của dục. Này Man-nhàn-đề, Thiên vương hoặc Thiên tử ấy có thể xả bỏ năm công đức của dục ở cõi trời mà hoan hỷ hướng đến dục lạc ở nhân gian chăng?”
Man-nhàn-đề đáp:
“Dạ không, thứ Cù-đàm. Vì sao? Vì dục lạc ở nhân gian vốn xú uế, bất tịnh, rất đáng ghê tởm, không thể tưởng tới, vốn não hại, cực khổ. Thưa Cù-đàm, so với dục lạc ở thế gian, dục lạc cõi Trời là tối diệu, tối thắng. Thiên vương hay Thiên tử kia mà xả bỏ năm công đức của dục ở cõi trời để hoan hỷ tưởng đến dục lạc ở thế gian; điều đó không thể xảy ra được.”
“Cũng vậy, Này Man-nhàn-đề, Ta đoạn tuyệt dục lạc nhân gian, vượt khỏi dục lạc cõi trời, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, thấy như thật về sự tập khởi của năm công đức của dục ấy, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai họa, cùng sự xuất yếu của chúng, an trú với nội tâm tịch tĩnh. Ta thấy những người chưa ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt; đối với năm công đức dục khả ái, khả niệm, khả ý, khả lạc, tương ưng với dục, sau khi an trụ, thấy như vậy, Ta không thỏa mãn chúng, Ta không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, ý ông nghĩ sao, nếu có lạc thú do dục, do dục ái này, trong khi hoan lạc trong lạc thú này, vì chúng thấp hèn cho nên Ta không thỏa mãn chúng; vì chúng thấp hèn cho nên Ta không ham thích chúng. Này Man-nhàn-đề, đối với Ta, ông có nói gì chăng?”
“Dạ không, thưa Cù-đàm.”
“Này Man-nhàn-đề, cũng như người bị bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét. Người ấy gãi, cào rách các mụt ghẻ, hơ lên bếp lửa. Này Man nhà đề, ông nghĩ thế nào? Nếu người bị bệnh cùi thân thể lở lói, bị trùng đục khoét mà lấy tay gãi các mụt, cào rách, rồi hơ lên bếp lửa, như vậy liệu trừ bệnh có kết quả, không làm hại các căn, thoát khỏi cùi hủi, thân thể lành mạnh, bình phục như cũ được chăng?”
Man-nhàn-đề đáp:
“Dạ không, thưa Cù-đàm. Vì sao? Vì người mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét mà lấy tay gãi, cào rách các mụt, hơ trên bếp lửa, như vậy chỉ làm cho các mụt lở lói hơn trước mà thôi, nhưng bệnh nhân thì lại lấy ghẻ cùi làm sự thích thú.”
“Này Man-nhàn-đề, cũng như người mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét mà lấy tay gãi, cào rách các mụt rồi hơ lên bếp lửa, như vậy chỉ làm cho các mụt lở lói hơn trước mà thôi, nhưng bệnh nhân thì lại lấy ghẻ cùi làm sự thích thú. Này Man nhà đề, cũng như thế, chúng sanh chưa ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt, mà cứ chạy theo dục. Này Man-nhàn-đề, chúng sanh ấy, vì chưa ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt, mà cứ chạy theo dục, thì chỉ làm cho dục tăng trưởng, làm cho ái bành trướng thêm mà thôi; nhưng chúng sanh ấy thì lại lấy ái dục làm sự khoái lạc. Nếu chúng sanh đó không đoạn dục, không ly dục ái mà đã an trụ, sẽ an trụ hay đang an trụ với nội tâm tịch tĩnh, thì điều đó không thể xảy ra. Vì sao? Vì đó không phải là đạo lý để đọan dục, để ly dục ái, mà là chạy theo dục.
“Này Man-nhàn-đề, cũng như vua và đại thần hưởng năm công đức của dục, dễ được, ù không khó. Nếu các vị ấy không đoạn dục, không ly dục ái mà đã an trụ hay đang an trụ với nội tâm tịch tĩnh, thì điều đó không thể có được. Vì sao? Vì đó không phải là đạo lý để đoạn dục, để ly dục ái mà là chạy theo dục. Cũng vậy, Này Man-nhàn-đề, chúng sanh chưa ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt, mà chạy theo dục, thì Này Man-nhàn-đề, chúng sanh ấy chỉ làm cho dục tăng trưởng, làm chó dục ái bành trướng thêm mà thôi; nhưng chúng sanh ấy thì lại lấy dục ái làm sự hoan lạc. Nếu chúng sanh không đoạn dục, không ly dục ái mà đã an trụ, đang an trụ và sẽ an trụ với nội tâm tịch tĩnh, thì điều ấy không thể xả ra được. Vì sao? Vì đó không phải là đạo lý để đoạn dục, để ly dục ái mà là chạy theo dục.
“Này Man-nhàn-đề, cũng như người mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét, lấy tay gãi, cào rách các mụt, hơ lên bếp lửa; có người xót thương, mưu cầu thiện lợi và hữu ích, an ổn và khoái lạc nên cho một thứ thuốc hay nào đó. Khi được cho thứ thuốc hay nào đó, trị bệnh có hiệu quả, không làm hư hoại các căn, người bệnh khỏi được bệnh cùi, thân thể tráng kiện, bình phục như cũ. Sau khi lành bệnh, nếu thấy ai mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét, lấy tay gãi, cào rách các mụt, hơ lên bếp lửa, này Man-nhàn-đề, thấy vậy, người ấy có hoan hỷ ngợi khen chăng?”
Man-nhàn-đề đáp:
“Dạ không, thưa Cù-đàm. Vì sao? Vì có bệnh mới cần thuốc, chứ không bệnh thì không cần.”
“Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào? Người mắc bệnh cùi ấy chữa bệnh có kết quả, không hư hoại các căn, thoát khỏi bệnh cùi, thân thể khỏe mạnh hoàn toàn, bình phục như cũ. Có hai người lực sĩ bắt người ấy hơ lên bếp lửa, người ấy hoảng hốt né tránh vì cảm thấy quá nóng. Này Man-nhàn-đề, ông nghĩ thế nào, bếp lửa bây giờ lại nóng hơn, khiến cho rất khổ, nguy hiểm hơn trước nhiều lắm chăng?”
“Dạ không, thưa Cù-đàm. Trước kia, còn mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét, bệnh nhân lấy tay gãi, cào rách các mụt, hơ lên bếp lửa. đối với sự khổ bức nóng của lửa, bệnh nhân lại cảm thấy hoan lạc; ấy là do tâm mê loạn mà có ý tưởng điên đảo. Thưa Cù-đàm, trái lại bây giờ trị bệnh có kết quả, không hư hoại các căn, thoát khỏi bệnh cùi, thân thể khỏe mạnh hoàn toàn bình phục như cũ, người ấy đối với sự khổ bức của lửa lại cảm thấy khổ sở, như vậy là do tâm sáng suốt, không có ý tưởng điên đảo.”
“Này Man-nhàn-đề, cũng người mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét, bệnh nhân lấy tay gãi, cào rách các mụt, hơ lên bếp lửa; đối với sự khổ bức của lửa, bệnh nhân lại thấy khoan khoái; ấy là do tâm mê loạn, có ý tưởng điên đảo. Cũng vậy, Này Man-nhàn-đề, chúng sanh không ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt mà chạy theo dục; những kẻ ấy đối với khổ dục lại có ý tưởng dục lạc; ấy là do tâm mê loạn, có ý tưởng điên đảo.
“Này Man-nhàn-đề, người trị bệnh đã có kết quả, không hư hoại các căn, đã khỏi bệnh ghẻ cùi, thân thể khỏe mạnh, hoàn toàn bình phục như cũ; người ấy đối với sự khổ bức của lửa thì cảm thấy đau khổ; ấy là do tâm yên ổn, không có ý tưởng điên đảo, cũng vậy, Này Man-nhàn-đề, Ta đối với khổ dục, thì có ý tưởng về khổ dục như thật, không có ý tưởng điên đảo. Vì sao? Này Man-nhàn-đề, vì dục quá khứ là bất tịnh, xấu xa, rất đáng ghê tởm, không thể hướng đến, não hại, gây đau khổ; dục vị lai và hiện tại cũng bất tịnh, xấu xa rất đáng ghê tởm, không thể hướng đến, não hại, cảm thọ khổ. Cho nên, Này Man-nhàn-đề, Như Lai, Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác nói rằng: Không bệnh là thiện lợi bậc nhất, Niết-bàn là sự an lạc tối thượng."
Dị học Man-nhàn-đề thưa:
“Thưa Cù-đàm, tôi cũng đã từng nghe các bậc kỳ cựu tôn trưởng lão, học Phạm hạnh đã lâu, nói rằng: Không bệnh là thiện lợi bậc nhất, Niết-bàn là an lạc tối thượng."
Đức Thế tôn hỏi:
“Nếu ông đã từng nghe các bậc kỳ cựu tôn đức trưởng lão học Phạm hạnh đã lâu nói rằng: Không bệnh là thiện lợi bậc nhất, Niết-bàn là sự an lạc tối thượng; thì Man nhàn đề, thế nào là không bệnh, thế nào là Niết-bàn?”
Bấy giờ, Man-nhàn-đề Dị học, đối với thân là bệnh hoạn, là ung nhọt, là mũi tên, là rắn độc, là vô thường, là khổ, là không, là chẳng phải tự ngã, nhưng lại dùng hai tay xoa bóp mà nói rằng:
“Thưa Cù-đàm, cái này không bệnh, cái này là Niết-bàn.”
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Man-nhàn-đề, cũng như người mù bẩm sinh, nghe người có mắt nói rằng: ‘Trắng tinh, không bẩn! Trắng tinh, không bẩn!’ Nghe như vậy, người mù đi tìm cái trắng tinh. Có người lừa đối, không mưu cầu thiện lợi hữu ích, an ổn khoái lạc cho người mù, nên đem chiếc áo cáu ghét nhơ bẩn, đến nói với người mù rằng: ‘Ông nên biết, đây là chiếc áo trắng tinh, không bẩn. Ông hãy cung kính đưa hai tay nhận lấy mà khoác lên thân.’ Người mù ấy liền hoan hỷ đưa hai tay cung kính thọ nhận, khoác lên thân mà nói rằng: ‘Trắng tinh, không bẩn! Trắng tinh không bẩn!’ Này Man-nhàn-đề, người mù ấy tự mình biết mà nói lên như thế, hay không tự mình biết mà nói lên như thế? Tự mình thấy mà nói lên như thế, hay không tự mình thấy mà nói lên như thế?”
Man-nhàn-đề dị đạo đáp:
“Thưa Cù-đàm, người ấy nói như vậy nhưng quả thật không biết, không thấy gì cả.”
Đức Thế Tôn nói:
“Cũng vậy, Này Man-nhàn-đề, ông như người mù không có mắt. Thân chính là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là rắn độc, là vô thường, là khổ, là không, là không phải tự ngã. Thế mà ông dùng hai tay xoa bóp và nói rằng: ‘Thưa Cù-đàm, cái này không bệnh, cái này là Niết-bàn.’ Này Man-nhàn-đề, thế nào là không bệnh, ông còn không biết, há lại thấy biết Niết-bàn, được Niết-bàn chăng? Nói rằng thấy Niết-bàn thì quả không thể được. Này Man-nhàn-đề, Như Lai, Vô sở trước Đẳng chánh giác nói rằng:
Không bệnh, lợi bậc nhất,
Niết-bàn, lạc tối thượng,
Chỉ con đường Bát chánh,
Đến an ổn cam lồ.
“Trong chúng đó nhiều người được nghe bài kệ này. Sau khi số đông những người dị họ nghe bài kệ này, liền truyền lại cho nhau, nhưng không hiểu rõ nghĩa lý. Họ đã nghe và muốn tìm cầu giáo nghĩa, họ đều là kẻ ngu si, trở lại tự lừa dối lẩn nhau. Thân bốn đại hiện tại của họ là do cha me sanh ra, được nuôi lớn nhờ ăn uống, che đậy của y phục, chăm sóc bằng tắm rửa, đó là pháp hủy hoại, là pháp tan rã, nhưng họ thấy là ngã, chấp thủ là ngã, duyên thủ nên có hữu, duyên hữu nên có sanh, duyên nới sanh nên có già, chết, duyên nơi già, chết nên có buồn rầu, khóc than, lo lắng, khổ sở, áo não. Như vậy, toàn bộ khối lớn khổ đau này phát sanh.”
Khi ấy, Man-nhàn-đề Dị học liền đứng dậy, trịch vai áo, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn và bạch:
“Bạch Cù-đàm, nay con hoàn toàn tin tưởng Sa-môn Cù-đàm. Mong Cù-đàm thuyết pháp cho con nghe, để con được biết: Đây là sự không bệnh, đây là Niết-bàn.”
Đức The Tôn nói:
“Này Man-nhàn-đề, nếu Thánh tuệ nhãn của ông chưa được thanh tịnh; dù Ta có thuyết giảng cho nghe về sự không bệnh, về Niết-bàn, thì ông cũng không thể nào hiểu được, mà chỉ nhọc công cho Ta thôi. Này Man-nhàn-đề, ví như người sanh ra đã bị mù, nghe người khác đến nói rằng: ‘Ông nên biết, đây là sắc xanh, sắc vàng, sắc đỏ, sắc trắng.’ Này Man-nhàn-đề, người mù ấy chỉ nghe người khác nói, có biết đây là sắc xanh, sắc vàng, sắc đỏ, sắc trắng chăng?”
Man-nhàn-đề đáp:
“Dạ không, thưa Cù-đàm.”
“Cũng vậy, này Man nhàn đề, nếu Thánh tuệ nhãn của ông chưa được thanh tịnh; dù Ta có thuyết giảng cho ông nghe về sự không bệnh, về Niết-bàn, thì ông cũng không thể nào hiểu được, mà chỉ nhọc công Ta thôi. Này Man-nhàn-đề, Ta sẽ thuyết giảng cho ông nghe về diệu dược thích hơp khiến cho Thánh tuệ nhãn chưa được thanh tịnh liền được thanh tịnh. Này Man-nhàn-đề, nếu Thanh tuệ nhãn của ông được thanh tịnh, ông sẽ tự biết: ‘Đây là sự không bệnh, đây là Niết-bàn.’ Này Man-nhàn-đề, ví như người mù bẩm sinh, có thân nhân mong muốn cho được an ổn, khoái lạc nên tìm cầu thầy chữa mắt. Thầy chữa mắt trị liệu bằng mọi cách, hoặc khiến nôn ra ở trên, hoặc khiến bài tiết ở dưới, hoặc nhỏ thuốc vào lỗ mũi, hoặc rửa ở dưới, hoặc chích ở mạch, hoặc khiến chảy nước mắt ra. Này Man-nhàn-đề, giả sử trúng thuốc thì hai mắt được trong sáng. Này Man-nhàn-đề, nếu người ấy hai mắt được trong sáng thì tự mình thấy đây là sắc xanh, sắc vàng, sắc đỏ, sắc trắng. Người ấy thấy cái áo cáu ghét dơ bẩn, nên nghĩ rằng: ‘Người kia là oan gia, từ lâu nó đã đem cái áo cáu ghét mà dối gạt ta. Rồi nó sanh tâm oán ghét. Này Man-nhàn-đề, người ấy có thể sát hại người kia. Cũng vậy, này Man nhàn đề, Ta sẽ thuyết giảng cho ông nghe về diệu dược thích hợp, khiến cho Thánh tuệ nhãn chưa thanh tịnh liền được thanh tịnh. Này Man-nhàn-đề, nếu Thánh tuệ nhãn của ông được thanh tịnh, ông sẽ tự biết: ‘Đây là sự không bệnh, đây là Niết-bàn.’
“Này Man-nhàn-đề, có bốn pháp khiến người Thánh tuệ nhãn chưa thanh tịnh liền được thanh tịnh. Những gì là bốn? Là thân cận thiện tri thức mà cung kính thừa sự, nghe thiện pháp, khéo tư duy, thực hành pháp tùy pháp. Này Man-nhàn-đề, ông nên học như vậy. Thân cận thiện tri thức mà cung kính thừa sự, nghe thiện pháp, khéo tư duy, thực hành pháp tùy pháp, Này Man-nhàn-đề nên học như vậy.
“Này Man-nhàn-đề, ông đã thân cận thiện tri thức mà cung kính thừa sự rồi, liền được nghe thiện pháp; sau khi nghe được thiện pháp sẽ khéo tư duy; sau khi khéo tư duy, sẽ thực hành pháp tùy pháp; sau khi thực hành theo háp tùy pháp rồi, liền biết như thật rằng: Đây là Khổ, đây là Khổ Tập, đây là Khổ diệt, biết như thật đây là Khổ diệt đạo.
“Thế nào là biết Khổ như thật? Là biết khổ sanh, khổ già, khổ bệnh, khổ chết, khổ oán tăng hội, khổ ái biệt ly, khổ cầu bất đắc; nói tóm, năm thủ uẩn là khổ. Đó gọi là biết khổ như thật.
“Thế nào là biết Khổ tập như thật? Biết rằng đây là tham ái dẫn đến tiếp thọ sự hữu trong tương lai, tương ưng với hỷ dục, ước mong đời sống như thế này hay như thế kia. Đó gọi là biết Khổ tập như thật.
“Thế nào là biết Khổ diệt như thật? Biết rằng đây là tham ái dẫn đến tiếp thọ sự hữu trong tương lai, đí đôi với hỷ dục ước mong đời sống như thế này hay như thế kia; tham ái ấy đã diệt tận không còn dư tàn, đã bị đoạn trừ, đã bị xả ly, đã nôn ra hết, không còn tham dục, đã thanh tịnh, đoạn trừ, tĩnh chỉ. Đó gọi là biết Khổ diệt như thật.
“Thế nào là biết Khổ diệt đạo như thật? Là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó gọi là biết Khổ diệt đạo như thật.”
Sau khi nghe nói pháp này, Dị học Man-nhàn-đề xa lìa trần cấu, pháp nhãn về các pháp phát sanh. Lúc bấy giờ, Dị học Man-nhàn-đề thấy pháp, đắc pháp, giác chứng bạch tịnh pháp, đoạn nghi, trừ hoặc, không còn tôn thờ ai, không còn do ai, không còn do dự, đã an trụ nới quả chứng, đối với pháp của Thế Tôn đã được vô sở úy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ sát chân Phật và bạch:
“Bạch Thế Tôn, cúi mong Thế Tôn cho con xuất gia học đạo, thọ giới cụ túc, được làm Tỳ-kheo.”
Đức Thế Tôn nói:
“Lành thay! Hãy đến đây, Tỳ-kheo! Hãy tu hành Phạm hạnh!”
Man-nhàn-đề Dị đạo liền xuất gia học đạo, thọ giới cụ túc, được làm Tỳ-kheo. Sau khi Dị học Man-nhàn-đề xuất gia học đạo, thọ giới cụ túc, được làm Tỳ-kheo rồi, liền chứng quả A-la-hán.
Đức Phật thuyết như vậy, Tôn giả Man-nhàn-đề sau khi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
Introduction
SC 1Thus I have heard: One time, the Buddha traveled to Kuru and was staying in Bhāradvāja’s most quiet abode, sitting on a straw seat there.
SC 2After the night had passed and the sun rose, the Buddha put on his robe and took his bowl into Kalmāṣadamya to walk the alms round. He returned in the afternoon when his meal was finished, put away his robe and bowl, and washed his hands and feet. He put his sitting mat over his shoulder and went out to a forest where he would spend the day practicing. The Bhagavān entered that forest, spread out his sitting mat under a tree, and sat cross-legged there.
SC 3Just then, the heretic Sugandika was out wandering in the afternoon, and he went to Bhāradvāja’s most quiet abode, too. Sugandika saw from a distance that there was a straw seat spread out at Bhāradvāja’s most quiet abode where someone had lain on their side like a lion, an ascetic, or a religious practitioner. After seeing that, Sugandika asked, “Who’s straw seat is this here at Bhāradvāja’s most quiet abode? They have lain there on their side like a lion, an ascetic, or a religious practitioner.”
SC 4The priest Bharadvāja replied, “Sugandika, it’s the ascetic Gautama of the Śākyans, who renounced his Śākya clan, cut off his hair and beard, put on the reddish-brown robes, became faithful, left home, went homeless, and trained on the path. He awakened to the unsurpassed, correct, and complete awakening. It’s his straw seat here at our most quiet abode where someone had lain on their side like a lion, an ascetic, or a religious practitioner.”
SC 5Sugandika said, “Bharadvāja, I see what can’t be seen, and I hear what can’t be heard. That is, I see where that ascetic Gautama has lain. Why is that? That ascetic Gautama has destroyed the ground. Someone who destroys the ground is of no use.”
SC 6Bharadvāja said, “Sugandika, you shouldn’t criticize that ascetic Gautama on this account. Why is that? The ascetic Gautama has many wise people, wise warriors, wise priests, wise householders, and wise ascetics. When he teaches those wise people, they attain noble knowledge.
SC 7“Sugandika, I’d like to tell that ascetic Gautama about this. Would that be all right?”
SC 8Sugandika said, “Bharadvāja, if you want to tell him, then do what you like. I have no objection. Bharadvāja, if I were to see that ascetic Gautama, I would tell him that, too. Why is that? That ascetic Gautama has destroyed the ground. Someone who destroys the ground is of no use.”
SC 9The Bhagavān was at his daytime practice spot at the time. He overheard the priest Bharadvāja and the heretic Sugandika having this conversation using the purified heavenly ear that goes beyond that of humans. Having heard them, he rose from his seat of repose late in the afternoon and went to the priest Bhāradvāja’s most quiet abode. He spread out his sitting mat on his straw seat there and sat cross-legged.
SC 10Bharadvāja had seen the Bhagavān among the trees in the distance. He was sitting upright and looked beautiful like the moon among the stars. His brilliant splendor shined like a mountain of gold. Replete with the signs and excellencies, his majesty was awe-inspiring. His face was peaceful and settled. Nothing could obstruct him. He had accomplished the training, and his stilled mind was quiet. Having seen this, Bharadvāja approached the Buddha, exchanged polite greetings with him, and withdrew to sit at one side.
SC 11The Bhagavān asked him, “Bharadvāja, did you have a conversation with the heretic Sugandika about this straw seat?”
The priest Bharadvāja answered, “Yes, Gautama. I was going to tell the ascetic Gautama about what happened, but he already knows about it before I could! Why is that? Because he’s the Tathāgata, the Arhat, and the Completely Awakened One.”
The Well Trained
SC 12The Bhagavān and Bharadvāja then discussed what had happened. Later, Sugandika was out wandering and paid a visit to Bhāradvāja’s most quiet abode. Seeing him coming from a distance, the Bhagavān said this: “Sugandika, someone who doesn’t train his eye faculty, who doesn’t guard or cultivate himself, will surely experience a painful result. ‘The ascetic Gautama is someone who trains himself well, guards and cultivates himself well, so he surely gets a pleasant result.’ Sugandika, was this the reason you said the ascetic Gautama destroys the ground, that someone who destroys the ground is of no use?”
Sugandika replied, “Yes, Gautama.”
SC 13“Thus, Sugandika, someone who doesn’t train their ear … nose … tongue … body … doesn’t train their mind faculty, who doesn’t guard and cultivate themselves, will surely experience a painful result. ‘The ascetic Gautama trains himself well, guards and cultivates himself well, so he surely gets a pleasant result.’ Sugandika, was this the reason you said the ascetic Gautama destroys the ground, that someone who destroys the ground is of no use?”
Sugandika answered, “Yes, Gautama.”
Ordinary Desires
SC 14The Bhagavān asked him, “Sugandika, what do you think? Suppose that someone has yet to leave home and train on the path. Their eye recognizes forms that are lovely, wished for, and associated with what’s desirable. Sometime later, they abandon those forms that their eye recognizes. They cut off their hair and beard, put on the reddish-brown robes, become faithful, leave home, go homeless, and train on the path. Truly seeing the formation, cessation, enjoyment, danger, and escape of forms that their eye recognizes, they wander with an inner calm.
SC 15“Suppose they see another person who has yet to part with desire for forms. They’re eaten by the craving for forms and burned by a fever for forms. Their eye recognizes forms that are lovely, wished for, and associated with what’s desirable. When they see this person pursuing [forms], they don’t praise that, nor are they delighted by that.
SC 16“Sugandika, what do you think? Suppose someone possesses these pleasures that are caused by craving and forms. When they’re enjoying these pleasures, they don’t praise that because it’s contemptible, nor is it a delight to them because it’s contemptible. Sugandika, would you have something to say to them?”
He replied, “No, Gautama.”
SC 17“Sugandika, what do you think? Suppose someone has yet to leave home and train on the path. Thus, their ear recognizes sounds … their nose recognizes smells … their tongue recognizes flavors … their body recognizes touches that are lovely, wished for, and associated with what’s desirable. Sometime later, they abandon touches that their body recognizes. They cut off their hair and beard, put on the reddish-brown robes, become faithful, leave home, go homeless, and train on the path. Truly seeing the formation, cessation, enjoyment, danger, and escape of touches that their body recognizes, they live with an inner calm.
SC 18“Suppose they see another person who has yet to part with desire for touches. They’re eaten by the craving for touches and burned by a fever for touches. Their body recognizes touches that are lovely, wished for, and associated with what’s desirable. When they see this person pursuing [touches], they don’t praise that, nor are they delighted by that.
SC 19“Sugandika, what do you think? Suppose someone possesses these pleasures that are caused by craving and touches. When they’re enjoying these pleasures, they don’t praise that because it’s contemptible, nor is it a delight to them because it’s contemptible. Sugandika, would you have something to say to them?”
He replied, “No, Gautama.”
The Five Merits of Desire
SC 20“Sugandika, what do you think? Suppose someone has yet to leave home and train on the path. The five merits of desire are lovely, wished for, and associated with what’s desirable. Sometime later, they abandon those five merits of desire. They cut off their hair and beard, put on the reddish-brown robes, become faithful, leave home, go homeless, and train on the path. Truly seeing the formation, cessation, enjoyment, danger, and escape of the five merits of desire, they live with an inner calm.
SC 21“Suppose they see another person who has yet to part with desire. They’re eaten by the craving for desires and burned by a fever for desires. The five merits of desire are lovely, wished for, and associated with what’s desirable. When they see this person pursuing [desires], they don’t praise that, nor are they delighted by that.
SC 22“Sugandika, what do you think? Suppose someone possesses these pleasures that are caused by desire and craving for desires. When they’re enjoying these pleasures, they don’t praise that because it’s contemptible, nor is it a delight to them because it’s contemptible. Sugandika, would you have something to say to them?"
He replied, “No, Gautama.”
SC 23“Sugandika, before I left home and trained on the path, I could get the five merits of desire easily, not with difficulty. They were lovely, wished for, and associated with what’s desirable. Sometime later, I abandoned the five merits of desire. I cut off my hair and beard, put on the reddish-brown robes, became faithful, left home, went homeless, and trained on the path. Truly seeing the formation, cessation, enjoyment, danger, and escape of the five merits of desire, I lived with an inner calm.
SC 24“I saw another person who had yet to part with desire. They were eaten by the craving for desires and burned by a fever for desires. The five merits of desire were lovely, wished for, and associated with what’s desirable. When I saw this person pursuing [desires], I didn’t praise that, nor was I delighted by that.
SC 25“Sugandika, what do you think? Suppose someone possesses these pleasures that are caused by desires and craving for desires. When they’re enjoying these pleasures, I don’t praise that because it’s contemptible, nor is it a delight to me because it’s contemptible. Sugandika, would you have something to say to me?”
He answered, “No, Gautama.”
The Heavenly Five Merits of Desire
SC 26The Bhagavān told him, “Sugandika, take the example of a householder or a householder’s son who’s extremely prosperous, whose wealth is measureless. Many are his grazing pastures, residences, and districts, and his means of living are diverse and abundant. He obtains the five desires easily, not with difficulty. He achieves marvelous physical conduct … verbal conduct … marvelous mental conduct. When he’s about to die, he doesn’t enjoy the five merits of desire and abandons them. When his body breaks up and his life ends, he ascends afterward to a good destination, being born up in Heaven. There, he’s endowed with and roams in the five merits of desire.
SC 27“Sugandika, would this god or son of a god rather abandon the five heavenly merits of desire? Would he rejoice when remembering his enjoyment of human desires?”
SC 28“He answered, “No, Gautama. Why would that be? Human desires are a foul place that’s impure. It would be detestable, unapproachable, horrible, and very painful to his mind. Gautama, the desires in Heaven are so much higher, more marvelous and superior, than human desires. It would never happen that this god or son of a god would abandon the five merits of desire up in Heaven or rejoice when remembering his enjoyment of human desires.”
SC 29“So it is, Sugandika. I ended human desires and went beyond the desires in Heaven. I cut off my hair and beard, put on the reddish-brown robes, became faithful, left home, went homeless, and trained on the path. Truly seeing the formation, cessation, enjoyment, trouble, and escape of the five merits of desire, I lived with an inner calm.
SC 30“I saw another person who had yet to part with desire. They were eaten by the craving for desires and burned by a fever for desires. The five merits of desire were lovely, wished for, and associated with what’s desirable. When I saw this person pursuing [desires], I didn’t praise that, nor was I delighted by that.
SC 31“Sugandika, what do you think? Suppose someone possesses these pleasures that are caused by desire and craving for desires. When they’re enjoying these pleasures, I don’t praise that because it’s contemptible, nor is it a delight to me because it’s contemptible. Sugandika, would you have something to say to me?”
“No, Gautama.”
The Parable of the Deluded Leper
SC 32The Bhagavān told him, “Sugandika, take the example of someone afflicted with leprosy. Their body festers and is eaten by worms. They scratch open their sores and hold them over burning coals. Sugandika, what do you think? Suppose that leper’s body festers and is eaten by worms. They scratch open their sores and hold them over burning coals. Would they rather have the ability to rid themselves of their illness, for their limbs to be uninjured, and to be freed from leprosy? Wouldn’t they rather their body were whole, restored, and returned to how it was originally?”
He replied to the Bhagavān, “No, Gautama.”
SC 33“Thus, Sugandika, that leper’s body festers and is eaten by worms. They scratch open their sores and hold them over burning coals. In this way, the sores that arise increase in number, and his original sores grow larger. Still, that person considers those sores of leprosy to be pleasant.
SC 34“Thus, Sugandika, are sentient beings who have yet to part with desire. They are eaten by the craving for desires and burned by a fever for desires, but they pursue those desires. In this way, their desires increase in number, and their craving for desires becomes larger. Still, they consider that craving for desires to be pleasant.
SC 35“If they don’t end their desire and don’t part with the craving for desires, it’ll never happen that they’ll have an inner calm in their past, future, and present travels. Why is that? It would make no sense for them to roam in desires when they’ve ended desire and parted with craving for desires.”
The Parable of the Indulgent King
SC 36The Bhagavān told him, “Sugandika, take the example of a king or great minister who obtains the five desires easily, not with difficulty. If he doesn’t end his desire and part with the craving for desires, it’ll never happen that he’ll have an inner calm in his past, future, or present travels. Why is that? It would make no sense for him to roam in desires when he has ended desire and parted with craving for desires.
SC 37“Thus, Sugandika, sentient beings who have yet to part with desire are eaten by the craving for desires and burned by a fever for desires, but they pursue those desires. Sugandika, suppose sentient beings have yet to part with desire, are eaten by their craving for desires, and are burned by their fever for desires. In this way, their desires increase in number, and their craving for desires becomes larger, but they consider the craving of desires to be pleasant.
SC 38“If they don’t end their desire and don’t part with the craving of desires, it’ll never happen that they’ll have an inner calm in their past, future, and present travels. Why is that? It would make no sense for them to roam in desires when they’ve ended desire and parted with craving for desires.
The Parable of the Cured Leper
SC 39“Sugandika, it’s like the leper whose body festers and is eaten by worms. They scratch open their sores and hold them over burning coals. Someone who sympathizes and pities the leper tries help and benefit them, tries to bring them well-being and happiness. To that end, they give the leper an excellent medicine. Having given them that excellent medicine, the leper gets the ability to rid themselves of disease, for their limbs to be uninjured. Freed from leprosy, their body is made whole, restored, and returned to how it was originally.
SC 40“Suppose they then see another person afflicted with leprosy whose body is festering and eaten by insects. They scratch open their sores and hold them over burning coals. Sugandika, having seen that person, would they rather wish for, praise, or rejoice in [that medicine] again?”
He answered, “No, Gautama. Why is that? Someone sick needs medicine, but someone healthy doesn’t.”
SC 41“Sugandika, what do you think? Suppose that leper gets the ability to rid themselves of disease, for their limbs to be uninjured. Freed from leprosy, their body is made whole, restored, and returned to how it was originally. Then, two strong men seize them and hold them over burning coals. In the confusion of trying to escape, their body is burned again. Sugandika, what do you think? Wouldn’t those burning coals have been hotter, more painful, and grievous before rather than now?”
SC 42He replied, “No, Gautama. Before, that person was afflicted with leprosy. Their body was festering and eaten by worms. They scratched open their sores and held them over burning coals. Touching that painful fire was a pleasant experience. Their mind was deranged, so they had a mistaken perception of it.
SC 43“Gautama, that person got the ability to rid themselves of disease, for their limbs to be uninjured. Freed from leprosy, their body was made whole, restored, and returned to how it was originally. Now, touching that painful fire would be a painful experience. Their mind would be at peace, and they’d have an unmistaken perception of it.”
SC 44“Sugandika, [those sentient beings are] like that leper whose body was festering and eaten by worms. They scratched open their sores and held them over burning coals. Touching that painful fire was a pleasant experience. Their mind was deranged, and they had a mistaken perception of it.
SC 45“Thus, Sugandika, are sentient beings who aren’t free of desires. They’re eaten by the craving for desires and burned by a fever for desires, but they pursue those desires. They perceive those painful desires as pleasant desires. Their minds are deranged, and they have mistaken perception of them.
The Buddha Was Like the Cured Leper
SC 46“Sugandika, take the example of the person who gets the ability to rid themselves of disease, for their limbs to be uninjured. Freed from leprosy, their body is made whole, restored, and returned to how it was originally. Touching that painful fire would be a painful experience. Their mind would be at peace, and they would have an unmistaken perception of it.
SC 47“Thus, Sugandika, I perceived those painful desires as painful desires, having gotten the true and unmistaken perception of them. Why is that? In the past, Sugandika, I desired an impure and foul place. My thinking was quite polluted and unapproachable, and I loathed painful contact. In the future and present, I desired an impure and foul place. My thinking was quite polluted and unapproachable, and I loathed painful contact.
Being Healthy and Nirvāṇa
SC 48“Sugandika, the Tathāgata, Arhat, and Completely Awakened One teaches: ‘Being healthy is the supreme blessing, and Nirvāṇa is the supreme happiness.’”
SC 49The heretic Sugandika said to the Bhagavān, “Gautama, I’ve trained for a long time in the religious practice with virtuous and senior elders. I’ve heard this from them: ‘Being healthy is the supreme blessing, and Nirvāṇa is the supreme happiness.’”
SC 50The Bhagavān asked, “Sugandika, so you’ve trained for a long time in the religious practice with virtuous and senior elders, and you’ve heard this from them: ‘Being healthy is the supreme blessing, and Nirvāṇa is the supreme happiness.’ Sugandika, what is ‘being healthy,’ and what is ‘Nirvāṇa’?”
Sugandika’s body was then an illness, a tumor, an arrow, a serpent, something impermanent, a pain, something empty, and not the soul. He rubbed it with both hands and said this: “Gautama, this is being healthy! This is Nirvāṇa!”
The Parable of the Tricked Blind Person
SC 51The Bhagavān said, “Sugandika, take for example a person born blind who hears someone with eyesight say: ‘It’s clean and immaculate! It’s clean and immaculate!’ Having heard this, they look for something that’s clean. Then, there’s a deceiver seeking their own safety and happiness and not the profit and gain of others. They bring the blind person filthy and impure clothes, saying, ‘You should know that these are clean and immaculate clothes. Kindly take them and put them on.’ The blind person is elated. They take the clothes kindly in both hands and put them on. The blind person then says, ‘It’s clean and immaculate! It’s clean and immaculate!’
SC 52“Sugandika, did that blind person know what he was saying, or did he not know? Did he see what he was saying, or did he not see it?”
Sugandika answered, “Gautama, someone who speaks in this way doesn’t really know and see it.”
SC 53The Bhagavān said, “In this way, Sugandika, you are a blind man without eyes. This body is an illness, a sore, an arrow, a serpent, something impermanent, a pain, something empty, and not the soul that you rub with both hands and say, ‘Gautama, this is being healthy! This is Nirvāṇa!’
SC 54“Sugandika, you’re not even aware of being healthy, so how could you know and see Nirvāṇa? It would never be possible to call that ‘knowing and seeing.’ Sugandika, the Tathāgata, Arhat, and Completely Awakened One says:
“‘Good health is the supreme blessing,
And Nirvāṇa is the supreme happiness.
Of all paths, it’s the noble eightfold path
That stands in the safety of the immortal.’"
SC 55There was a crowd of people listening to them. After they heard this verse, that group of heretics turned it over and repeated it to each other, but they couldn’t understand what it meant. Having heard it, they wanted to pursue that teaching, but they were all fools and returned to deceiving each other.
SC 56Their own present bodies were made of the four basic elements, had been born from parents, raised by food, always being sheltered, rubbed, and bathed. They were forced to endure its deteriorating, eroding, and dispersing nature, but they saw a soul and clung to that soul. Conditioned by clinging, then there was existence. Conditioned by existence, there was birth. Conditioned by birth, there was old age and death. Conditioned by old age and death, there was grief, lamentation, misery, and trouble. In this way, the whole mass of suffering arose.
Clarifying the Dharma Eye
SC 57Thereupon, the heretic Sugandika rose from his seat, bared one shoulder, and addressed the Buddha with his palms together, “Gautama, I now have the utmost belief in the ascetic Gautama! Please, Gautama, teach the Dharma well! Make me able to understand: ‘This is being heathy. This is Nirvāṇa.’”
SC 58The Bhagavān said, “Sugandika, if your noble wisdom eye isn’t clear yet, you’ll never be able to understand my teaching about heath and Nirvāṇa, and that would be troublesome for me. Sugandika, it would be like a man born blind who causes someone else to go and say, ‘You should know, this is the color blue … yellow … red … the color white.’ Sugandika, could a man born blind cause someone else to say: ‘I know the color blue … yellow … red … color white’?”
He answered, “No, Gautama.”
SC 59“So it is, Sugandika. If your noble wisdom eye isn’t clear yet, you’ll never be able to understand my teaching about health and Nirvāṇa, and that would be troublesome to me.
SC 60“Sugandika, I’ll teach you about something that’s like a marvelous medicine, which will cause your noble wisdom eye to become clear. Sugandika, if your noble wisdom eye becomes clear, you’ll be able to understand for yourself: ‘This is good heath. This is Nirvāṇa.’ Sugandika, [you’d be] like a man born blind who has relatives who care about him. Seeking profit and gain for him and seeking his safety and happiness, they find an eye doctor, and the doctor gives him a variety of treatments. Some are purgatives, some are laxatives. Some are nasal irrigations, some are enemas. Sometimes, his veins are pierced; sometimes, they make his tears flow.
SC 61“Sugandika, this being the case, both his eyes become clear. Sugandika, if both his eyes become clear, then he can see for himself, ‘This is the color blue … yellow … red … the color white.’ He can also see, ‘Those clothes are filthy and impure.’ Then he thinks, ‘That deceiver was not my friend who fooled me with these filthy clothes for so long.’ Then he has a thought of hatred for that deceiver. Sugandika, perhaps the person then kills that deceiver.
SC 62“In this way, Sugandika, I will teach you something that’s like a marvelous medicine, which will cause your noble wisdom eye to become clear. Sugandika, if your noble wisdom eye becomes clear, then you’ll be able to know for yourself, ‘This is good health. This is Nirvāṇa.’
SC 63“Sugandika, there are four things that can clarify the noble wisdom eye that isn’t clear yet. What are the four? Being close to good friends, paying respects and performing duties, hearing the good Dharma and considering it well, and going from one thing to the next. Sugandika, you should thus train: Be close to good friends, pay respects and perform duties, hear the good Dharma and consider it well, and go from one thing to the next. Sugandika, you should train in this way.
SC 64“Sugandika, once you’ve been close to good friends and paid respects and performed duties, then you’ll hear the good Dharma. Having heard the good Dharma, then consider it well. Having considered it well, then go from one thing to the next. Having gone from one thing to the next, then you’ll truly know, ‘This is suffering.’ You’ll [truly] know, ‘This is suffering’s formation.’ You’ll [truly] know, ‘This is suffering’s cessation.’ You’ll truly know, ‘This is the path to suffering’s cessation.’
The Four Noble Truths
SC 65“How does one truly know suffering? ‘It’s the suffering of birth, suffering of old age, suffering of illness, suffering of death, suffering of associating with enemies, suffering of parting with loved ones, and suffering of not getting what’s wanted. In brief, it’s the suffering of the five aggregates.’ Suffering is truly known in this way.
SC 66“How does one truly know the formation of suffering? ‘This craving will bring a future existence. Please let there be this or that existence in the company of delight and desire.’ Suffering’s formation is truly known in this way.
SC 67“How does one truly know the cessation of suffering? ‘This craving will bring a future existence. Please let this or that existence in the company of delight and desire cease without remainder, end, be abandoned, rejected, exhausted, disappear, and stop.’ Suffering’s cessation is truly known in this way.
SC 68“How does one truly know the path to the cessation of suffering? ‘This is the eightfold noble path. The eight are right view … right samādhi.’ The path to suffering’s cessation is truly known in this way.”
The Liberation of Sugandika
SC 69Once he was taught this Dharma, the heretic Sugandika became far removed from dust and free of dirt, and the Dharma eye arose in him. Thereupon, Sugandika saw the Dharma and got the Dharma. He awakened to the clean Dharma, ended doubt, and was freed from confusion. He had no more recourse to sages and didn’t follows others. Not emulating anyone, he lived in realization of the fruit and attained confidence in the Bhagavān’s Dharma. He then rose from his seat, bowed at the Buddha’s feet, and said, “Bhagavān, please allow me to leave home as a trainee on the path, be accepted fully, and become a monk.”
SC 70The Bhagavān told him, “Welcome, monk! Cultivate the religious practice!”
SC 71The heretic Sugandika then left home and trained on the path, was accepted fully, and became a monk. After leaving home, training on the path, being accepted fully, and knowing the Dharma, Sugandika became an arhat.
SC 72The Buddha spoke thus. When Venerable Sugandika heard what the Buddha taught, he rejoiced and approved.