Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng Trung A-hàm
MA5 5. Kinh mộc tích dụ
MA1 1. Kinh thiện pháp MA2 2. Kinh trú độ thọ MA3 3. Kinh thành dụ MA4 4. Kinh thủy dụ(1) MA5 5. Kinh mộc tích dụ MA6 6. Kinh thiện nhân vãng MA7 7. Kinh thế gian phước MA8 8. Kinh thất nhật MA9 9. Kinh thất xa MA10 10. Kinh lậu tận MA11 11. Kinh diêm dụ MA12 12. Kinh hòa-phá MA13 13. Kinh độ MA14 14. Kinh la-hầu-la MA15 15. Kinh tư MA16 16. Kinh già-lam MA17 17. Kinh già-di-ni MA18 18. Kinh sư tử MA19 19. Kinh ni-kiền MA20 20. Kinh ba-la-lao MA21 21. Kinh đẳng tâm MA22 22. Kinh thành tựu giới MA23 23. Kinh trí MA24 24. Kinh sư tử hống MA25 25. Kinh thủy dụ (2) MA26 26. Kinh cù-ni-sư MA27 27. Kinh phạm chí đà-nhiên MA28 28. Kinh giáo hóa bịnh MA29 29. Kinh đại câu-hi-la MA30 30. Kinh tượng tích dụ MA31 31. Kinh phân biệt thánh đế MA32 32. Kinh vị tằng hữu pháp MA33 33. Kinh thị giả MA34 34. Kinh bạc-câu-la MA35 35. Kinh a-tu-la MA36 36. Kinh địa động MA37 37. Kinh chiêm-ba MA38 ma38 MA39 ma39 MA40 ma40 MA41 ma41 MA42 42. Kinh hà nghĩa MA43 43. Kinh bất tư MA44 44. Kinh niệm MA45 ma45 MA46 ma46 MA47 ma47 MA48 ma48 MA49 ma49 MA50 ma50 MA51 51. Kinh bổn tế MA52 ma52 MA53 ma53 MA54 54. Kinh tận trí MA55 55. Kinh niết-bàn MA56 56. Kinh di-hê MA57 57. Kinh tức vị tỳ-kheo thuyết MA58 58. Kinh thất bảo MA59 59. Kinh tam thập nhị tướng MA60 60. Kinh tứ châu MA61 61. Kinh ngưu phấn dụ MA62 62. Kinh tần-tì-sa-la vương nghinh phật MA63 63. Kinh tì-bà-lăng-kỳ MA64 64. Kinh thiên sứ MA65 65. Kinh ô điểu dụ MA66 66. Kinh thuyết bổn MA67 67. Kinh đại thiên nại lâm MA68 68. Kinh đại thiện kiến vương MA69 69. Kinh tam thập dụ MA70 70. Kinh chuyển luân vương MA71 71. Kinh tì-tứ MA72 72. Kinh trường thọ vương bổn khởi MA73 73. Kinh thiên MA74 74. Kinh bát niệm MA75 75. Kinh tịnh bất động đạo MA76 76. Kinh úc-già-chi-la MA77 77. Kinh sa-kê-đế tam tộc tánh tử MA78 78. Kinh phạm thiên thỉnh phật MA79 79. Kinh hữu thắng thiên MA80 80. Kinh ca-hi-na MA81 81. Kinh niệm thân MA82 82. Kinh chi-ly-di-lê MA83 83. Kinh trưởng lão thượng tôn thụy miên MA84 84. Kinh vô thích MA85 85. Kinh chân nhân MA86 86. Kinh thuyết xứ MA87 87. Kinh uế phẩm MA88 88. Kinh cầu pháp MA89 89. Kinh tỳ-kheo thỉnh MA90 90. Kinh tri pháp MA91 91. Kinh chu-na vấn kiến MA92 92. Kinh thanh bạch liên hoa dụ MA93 93. Kinh thủy tịnh phạm chí MA94 94. Kinh hắc tỳ-kheo MA95 95. Kinh trụ pháp MA96 96. Kinh vô MA97 97. Kinh đại nhân MA98 98. Kinh niệm xứ MA99 ma99 MA100 ma100 MA101 101. Kinh tăng thượng tâm MA102 102. Kinh niệm MA103 103. Kinh sư tử hống MA104 104. Kinh ưu-đàm-bà-la MA105 105. Kinh nguyện MA106 106. Kinh tưởng MA107 ma107 MA108 ma108 MA109 ma109 MA110 ma110 MA111 111. Kinh đạt phạm hạnh MA112 112. Kinh a-nô-ba MA113 113. Kinh chư pháp bổn MA114 114. Kinh ưu-đà-la MA115 115. Kinh mật hoàn dụ MA116 116. Kinh cù-đàm-di MA117 117. Kinh nhu nhuyến MA118 118. Kinh long tượng MA119 119. Kinh thuyết xứ MA120 120. Kinh thuyết vô thường MA121 121. Kinh thỉnh tỉnh MA122 122. Kinh chiêm-ba MA123 123. Kinh sa-môn nhị thập ức MA124 124. Kinh bát nạn MA125 125. Kinh bần cùng MA126 126. Kinh hành dục MA127 127. Kinh phước điền MA128 128. Kinh ưu-bà-tắc MA129 129. Kinh oán gia MA130 130. Kinh giáo MA131 131. Kinh hàng ma MA132 132. Kinh lại-tra-hòa-la MA133 133. Kinh ưu-ba-ly MA134 134. Kinh thích vấn MA135 135. Kinh thiện sanh MA136 136. Kinh thương nhân cầu tài MA137 137. Kinh thế gian MA138 138. Kinh phước MA139 139. Kinh tức chỉ đạo MA140 140. Kinh chí biên MA141 141. Kinh dụ MA142 142. Kinh vũ thế MA143 143. Kinh thương-ca-la MA144 144. Kinh toán số mục-kiền-liên MA145 145. Kinh cù-mặc mục-kiền-liên MA146 146. Kinh tượng tích dụ MA147 147. Kinh văn đức MA148 148. Kinh hà khổ MA149 149. Kinh hà dục MA150 150. Kinh uất-sấu-ca-la MA151 151. Kinh phạm chí a-nhiếp-hòa MA152 152. Kinh anh vũ (1) MA153 153. Kinh man-nhàn-đề MA154 154. Kinh bà-la-bà đường MA155 155. Kinh tu-đạt-đa MA156 156. Kinh phạm ba-la-diên MA157 157. Kinh hoàng lô viên MA158 158. Kinh đầu-na MA159 159. Kinh a-già-la-ha-na MA160 160. Kinh a-lan-na MA161 161. Kinh phạm-ma MA162 162. Kinh phân biệt lục giới MA163 163. Kinh phân biệt lục xứ MA164 164. Kinh phân biệt quán pháp MA165 165. Kinh ôn tuyền lâm thiên MA166 166. Kinh thích trung thiền thất tôn MA167 167. Kinh a-nan thuyết MA168 168. Kinh ý hành MA169 169. Kinh câu-lâu-sấu vô tránh MA170 170. Kinh anh vũ (2) MA171 171. Kinh phân biệt đại nghiệp MA172 172. Kinh tâm MA173 173. Kinh phù-di MA174 ma174 MA175 ma175 MA176 176. Kinh hành thiền MA177 177. Kinh thuyết MA178 178. Kinh lạp sư MA179 179. Kinh ngũ chi vật chủ MA180 180. Kinh cù-đàm-di MA181 181. Kinh đa giới MA182 ma182 MA183 ma183 MA184 ma184 MA185 ma185 MA186 186. Kinh cầu giải MA187 187. Kinh thuyết trí MA188 188. Kinh a-di-na MA189 189. Kinh thánh đạo MA190 190. Kinh tiểu không MA191 191. Kinh đại không MA192 192. Kinh ca-lâu-ô-đà-di MA193 193. Kinh mâu-lê-phá-quần-na MA194 194. Kinh bạt-đà-hòa-lợi MA195 195. Kinh a-thấp-bối MA196 196. Kinh châu-na MA197 197. Kinh ưu-ba-ly MA198 198. Kinh điều ngự địa MA199 199. Kinh si tuệ địa MA200 200. Kinh a-lê-tra MA201 201. Kinh trà-đế MA202 202. Kinh trì trai MA203 203. Kinh bô-đa-lị MA204 204. Kinh la-ma MA205 205. Kinh ngũ hạ phần kết MA206 206. Kinh tâm uế MA207 ma207 MA208 ma208 MA209 209. Kinh tì-ma-na-tu MA210 210. Kinh tỳ-kheo-ni pháp lạc MA211 211. Kinh đại câu-hy-la MA212 212. Kinh nhất thiết trí MA213 213. Kinh pháp trang nghiêm MA214 214. Kinh tì-ha-đề MA215 215. Kinh đệ nhất đắc MA216 216. Kinh ái sanh MA217 217. Kinh bát thành MA218 ma218 MA219 ma219 MA220 220. Kinh kiến MA221 221. Kinh tiễn dụ MA222 222. Kinh lệ
MA5

5. Kinh mộc tích dụ

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật trú tại Câu-tát-la, trú giữa nhân gian và có đại chúng Tỳ-kheo đi theo.

Bấy giờ Thế Tôn đang đi giữa đường, chợt thấy có đống cây lớn ở một nơi kia đang bùng cháy dữ dội. Thế Tôn thấy vậy, liền bước xuống bên đường, đi đến một cây khác, trải ni-sư-đàn, kiết già mà ngồi. Thế Tôn ngồi rồi bảo các Tỳ-kheo:

“Các ngươi có thấy đống cây lớn đằng kia đang bùng cháy không?”

Khi đó các Tỳ-kheo trả lời:

“Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy”.

Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:

“Các ngươi nghĩ sao, với đống cây lớn phựt cháy hừng hẫy đó mà hoặc ôm, hoặc ngồi, hoặc nằm; hay là, với người con gái của dòng Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, hay thợ thuyền, đang độ tuổi cường thạnh, tắm gội, xông hương thơm, mặc y phục sạch sẽ, dùng tràng hoa chuỗi ngọc, trang sức thân thể, hoặc ôm, hoặc ngồi, hoặc nằm; việc nào vui sướng hơn?”

Lúc ấy các Tỳ-kheo thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, với đống cây lớn đang phựt cháy hừng hẫy hoặc ôm, hoặc ngồi, hoặc nằm thì rất khổ. Bạch Thế Tôn, hoặc có người con gái dòng Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ hay thợ thuyền, đang độ tuổi cường thạnh, tắm gội, xông hương thơm, mặc y phục sạch sẽ, dùng tràng hoa chuỗi ngọc, trang sức thân thể, mà tới hoặc ôm, hoặc ngồi, hoặc nằm thì rất vui sướng. Thế Tôn!”

Thế Tôn bảo:

“Ta sẽ nói cho các ngươi biết, không để cho các ngươi Sa-môn mà lại mất đạo Sa-môn. Các ngươi nếu muốn thành tựu phạm hạnh vô thượng thì thà ôm đống cây lớn đang phừng cháy hừng hẫy, hoặc ngồi, hoặc nằm. Việc ấy mặc dù vì thế mà phải chịu khổ sở, hoặc chết. Nhưng không phải do đó mà thân hoại mạng chung phải thẳng đến ác xứ hay sanh vào địa ngục. Nếu người ngu si phạm giới và không tinh tấn, sanh ra ác pháp bất thiện; không phải là phạm hạnh mà gọi là phạm hạnh, không phải là Sa-môn mà gọi là Sa-môn, hoặc ôm người con gái dòng Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ hoặc thợ thuyền, đang độ tuổi cường thạnh, tắm gội, xông hương thơm, mặc y phục sạch sẽ, dùng tràng hoa chuỗi ngọc trang sức thân thể, hoặc ngồi, hoặc nằm; người ngu si kia vì vậy mà lâu dài không thiện, không nghĩa, thọ quả báo ác pháp, khi thân hoại mạng chung thẳng đến cõi xấu, sanh vào địa ngục. Do đó, các ngươi hãy quán sát nghĩa này, quán sát nghĩa kia, quán sát cả hai nghĩa, và hãy suy nghĩ như thế này: ‘Ta xuất gia học đạo không phải vô ích, không phải luống không, mà có quả, có báo, có sự an lạc cùng cực, được sanh vào các thiện xứ để được trường thọ. Ta tiếp nhận áo chăn, đồ ăn uống, giường nệm, thuốc thang của người tín thí, làm cho các thí chủ được phước đức, đại quả báo, đại quang minh. Hãy nên học như vậy”.

Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Các ngươi nghĩ sao, như có lực sĩ lấy sợi dây thừng bằng lông bền chắc cột siết bắp chân cho đến bứt da; bứt da rồi bứt thịt; bứt thịt rồi bứt gân; bứt gân rồi bứt xương; bứt xương cho tới tủy mới thôi. Hoặc nếu từ những người Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ hay thợ thuyền mà nhận sự tín thí, rồi sờ mó thân thể, chi tiết, tay chân. Điều nào vui sướng hơn?”

Bấy giờ các Tỳ-kheo bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, nếu có lực sĩ lấy sợi dây thừng bằng lông bền chắc cột siết bắp chân cho đến bứt da; bứt da rồi bứt thịt; bứt thịt rồi bứt gân; bứt gân rồi bứt xương; bứt xương cho tới tủy mới thôi. Rất khổ, bạch Thế Tôn. Nếu từ người dòng Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, thợ thuyền mà được cúng thí, rờ rẫm thân thể, chi tiết, tay chân; thì rất vui sướng, Thế Tôn!”

Thế Tôn bảo rằng:

“Ta sẽ nói cho các ngươi biết, không để cho các ngươi học Sa-môn lại mất đạo Sa-môn. Các ngươi nếu muốn thành tựu vô thượng phạm hạnh thì thà để cho lực sĩ đem sợi dây thừng bằng lông, cột siết bắp chân cho tới bứt da, bứt da rồi bứt thịt, bứt thịt rồi bứt gân, bứt gân rồi bứt xương, bứt xương tới tủy mới thôi. Việc ấy mặc dù như vậy mà các ngươi thọ khổ hoặc chết, nhưng không do đó mà thân hoại mạng chung đi đến ác xứ hay sanh vào địa ngục. Nếu người ngu si phạm giới, không tinh tấn, sanh ra pháp ác và bất thiện, không phải phạm hạnh mà xưng là phạm hạnh, không phải Sa-môn mà xưng là Sa-môn; từ người dòng Sát-lị, Bà-la-môn, cư sĩ, thợ thuyền thọ nhận sự tín thí, rồi rờ rẫm thân thể, các chi tiết và tay chân. Người ngu si đó vì vậy mãi mãi không thiện, không nghĩa, thọ quả báo ác pháp, khi thân hoại mạng chung thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Vì thế các ngươi hãy quán sát nghĩa này, quán sát nghĩa kia, quán sát cả hai nghĩa. Hãy suy nghĩ thế này: Ta xuất gia học đạo không vô ích, không luống không, mà có quả, có báo, có sự an lạc cùng cực, sanh vào các thiện xứ, để được trường thọ. Ta tiếp nhận áo chăn, đồ ẩm thực, giường nệm, thuốc thang của người tín thí, làm cho các thí chủ được phước đức lớn, được quả báo lớn, được quang minh lớn. Nên học như vậy”.

Phật lại bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Các ngươi nghĩ sao, nếu có lực sĩ đem con dao đã mài giũa sắc bén chặt đứt ngang đùi; hay là từ nơi người dòng Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, thợ thuyền, để thọ nhận sự tín thí, lễ bái, cung kính, đón rước; điều nào sung sướng hơn?”

Bấy giờ các Tỳ-kheo bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, nếu có lực sĩ đem con dao đã mài giũa sắc bén chặt đứt ngang đùi, thì rất khổ. Thế Tôn, còn từ người Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, hay thợ thuyền mà thọ nhận sự tín thí, lễ bái, cung kính, đón rước thì rất vui sướng”.

Thế Tôn bảo rằng:

“Ta sẽ nói cho các ngươi biết, không để cho các ngươi học Sa-môn mà mất đạo Sa-môn. Các ngươi nếu muốn thành tựu phạm hạnh vô thượng thì thà để cho lực sĩ đem dao bén đã mài giũa chặt đứt ngang đùi. Việc ấy dù do đó mà chịu sự đau khổ, hoặc chết, nhưng không vì vậy mà khi thân hoại mạng chung đi thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Nếu người ngu si phạm giới không tinh tấn, sanh ra ác pháp bất thiện, chẳng phải phạm hạnh xưng là phạm hạnh, chẳng phải Sa-môn xưng là Sa-môn; rồi từ người Sát-lị, Bà-la-môn, cư sĩ hay thợ thuyền, mà thọ nhận sự tín thí, lễ bái, cung kính, tiếp đón. Người ngu si kia vì thế mãi mãi không được thiện, không được nghĩa, thọ quả báo ác pháp, sau khi thân hoại mạng chung thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Do đó, các ngươi nên quán sát nghĩa này, quán sát nghĩa kia, quán sát cả hai nghĩa. Nên nghĩ thế này: Ta xuất gia học đạo không phải vô ích, không luống không, mà có quả, có báo, có sự an lạc cùng cực, sanh đến các thiện xứ, để được trường thọ, tiếp nhận áo chăn, thực phẩm, giường chiếu của người tín thí, làm cho các thí chủ được phước đức lớn, được quả báo lớn, được quang vinh lớn, nên học như vậy”.

Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Các ngươi nghĩ sao? Hoặc có lực sĩ đem lá đồng sắt đốt cháy hừng hực, rồi quấn quanh thân thể; hoặc từ người Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, thợ thuyền, mà nhận sự tín thí y phục của người; cái nào vui sướng hơn?”

Các Tỳ-kheo bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, nếu có lực sĩ đem lá đồng sắt đốt cháy hừng hực rồi quấn quanh thân thể thì rất khổ. Nếu từ người Sát-lị, Bà-la-môn, cư sĩ, thợ thuyền mà thọ lãnh tín thí, y phục của người, thì rất vui sướng”.

Thế Tôn bảo rằng:

“Ta sẽ nói các ngươi biết, không để các ngươi học Sa-môn mà mất đạo Sa-môn. Các ngươi nếu muốn thành tựu phạm hạnh vô thượng thì thà để cho lực sĩ đem lá đồng sắt đốt cháy hừng hực rồi quấn quanh thân thể. Dù việc đó vì thế sẽ chịu sự khổ, nhưng không do vậy mà khi thân hoại mạng chung phải thẳng đến ác xứ, sanh trong địa ngục. Nếu người ngu si, phạm giới, không tinh tấn, sanh ra pháp ác bất thiện, chẳng phải phạm hạnh xưng là phạm hạnh, chẳng phải Sa-môn xưng là Sa-môn; rồi từ người Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, thợ thuyền thọ lãnh sự tín thí, y phục của người. Người ngu si kia, vì thế mãi không thiện, không nghĩa, thọ quả báo ác pháp. Sau khi thân hoại mạng chung thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Do đó, các ngươi quán sát nghĩa này, quán sát nghĩa kia, quán sát cả hai nghĩa. Nên nghĩ thế này: Ta xuất gia học đạo không phải vô ích, không luống không, mà có quả có báo, có sự an lạc cùng cực, sanh đến các thiện xứ để được trường thọ. Ta nhận lãnh y phục, chăn mền, đồ ẩm thực, giường chiếu, thuốc thang của người tín thí là làm cho các thí chủ được phước đức lớn, được quả báo lớn, được quang minh lớn. Nên học như vậy”.

Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Các ngươi nghĩ sao, hoặc có lực sĩ đem kềm sắt nóng, kéo cho hả miệng ra rồi lấy viên sắt đốt cháy hừng hực quăng vào trong miệng. Viên sắt nóng đó đốt môi; đốt cháy môi rồi đốt cháy lưỡi; đốt lưỡi rồi đốt lợi; đốt lợi rồi đốt cổ; đốt cổ rồi đốt tim; đốt tim rồi đốt bao tử và ruột; đốt bao tử và ruột rồi rơi xuống dưới. Hoặc từ người Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, thợ thuyền, thọ nhận sự tín thí, đồ ăn, vô lượng mùi vị. Việc nào vui sướng hơn?”

Các Tỳ-kheo bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, nếu có lực sĩ đem kềm sắt nóng kéo cho hả miệng, rồi lấy viên sắt đã cháy hừng hực bỏ vào miệng. Viên sắt nóng ấy đốt môi, đốt môi rồi đốt lưỡi, đốt lưỡi rồi đốt lợi, đốt lợi rồi đốt cổ, đốt cổ rồi đốt tim, đốt tim rồi đốt bao tử và ruột, đốt bao tử và ruột rồi rơi xuống dưới. Việc ấy rất khổ, bạch Thế Tôn, nếu từ người Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, thợ thuyền để lãnh thọ sự tín thí, đồ ăn, vô lượng mùi vị; việc ấy rất vui sướng”.

Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Ta sẽ nói cho các ngươi biết, không để các ngươi học Sa-môn mà để mất đạo Sa-môn. Các ngươi nếu muốn thành tựu phạm hạnh vô thượng thà để lực sĩ đem kềm sắt nóng kéo cho hả miệng ra rồi đem viên sắt đã đốt cháy hừng hực quăng vào trong miệng, viên sắt nóng ấy đốt môi, đốt môi rồi đốt lưỡi, đốt lưỡi rồi đốt lợi, đốt lợi rồi đốt cổ, đốt cổ rồi đốt tim, đốt tim rồi đốt bao tử và ruột, đốt bao tử và ruột rồi rơi xuống. Điều ấy dù do vậy mà phải chịu đau khổ, hoặc chết, nhưng không vì thế mà khi thân hoại mạng chung thẳng đến ác xứ hay sanh vào địa ngục. Nếu người ngu si phạm giới, không tinh tấn, sanh ra ác pháp bất thiện, chẳng có phạm hạnh xưng là phạm hạnh, chẳng phải Sa-môn xưng là Sa-môn; từ người Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, thợ thuyền mà nhận lãnh sự tín thí, đồ ăn, vô lượng mùi vị. Người ngu si đó vì thế mà mãi mãi không thiện, không nghĩa, chịu quả báo ác pháp, sau khi thân hoại mạng chung thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Vì thế các ngươi nên quán sát nghĩa này, quán sát nghĩa kia, quán sát cả hai nghĩa. Nên nghĩ thế này: Ta xuất gia học đạo không phải vô ích, không luống không, mà có quả có báo, có sự an lạc cùng cực, sanh đến các thiện xứ để được trường thọ. Ta nhận lãnh sự tín thí, y phục, chăn mền, đồ ẩm thực, giường chiếu, thuốc thang của người là làm cho các thí chủ được phước đức lớn, được quả báo lớn, được quang minh lớn. Nên học như vậy”.

Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Các ngươi nghĩ sao, nếu có lực sĩ đem giường sắt hay đồng đốt cháy hừng hực, rồi cưỡng bức người kia phải nằm ngồi trên đó; hoặc là từ các người Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, thợ thuyền mà thọ lãnh sự tín thí, giường chõng hay ngọa cụ của người; việc nào vui sướng hơn?”

Các Tỳ-kheo bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn, nếu có lực sĩ đem giường sắt hay đồng đốt cháy hừng hực rồi cưỡng bức người kia phải nằm ngồi trên đó thì rất khổ. Bạch Thế Tôn, nếu theo các người Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, thợ thuyền mà thọ lãnh sự tín thí, giường chõng, ngọa cụ của người; thì rất vui sướng”.

Thế Tôn bảo rằng:

“Ta sẽ nói cho các ngươi biết, không để các ngươi học Sa-môn mà mất đạo Sa-môn. Nếu các ngươi muốn thành tựu phạm hạnh vô thượng, thì thà để cho lực sĩ đem giường đồng hay sắt đốt cháy hừng hực rồi cưỡng bức phải nằm ngồi trên đó, việc đó vì thế mà chịu sự khổ sở hoặc chết. Nhưng không vì thế mà khi thân hoại mạng chung thẳng đến ác xứ hay sanh vào địa ngục. Nếu người ngu si phạm giới, không tinh tấn, sanh ra ác pháp bất thiện, chẳng phải phạm hạnh xưng là phạm hạnh, chẳng phải Sa-môn xưng làm Sa-môn, rồi từ những người Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, thợ thuyền để thọ lãnh sự tín thí, ngọa cụ, giường chõng của người; người ngu si đó vì thế mãi mãi không thiện, không nghĩa, thọ quả báo ác, sau khi thân hoại mạng chung thẳng đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Vì thế các ngươi nên quán sát nghĩa này, quán sát nghĩa kia, quán sát cả hai nghĩa. Nên nghĩ thế này: Ta xuất gia học đạo không phải vô ích, không phải luống không, mà có quả báo, có sự an lạc vô cùng, sanh đến các thiện xứ để được trường thọ. Ta nhận lãnh sự tín thí, áo mền, đồ ăn uống, giường nằm, thuốc thang của người là làm cho các thí chủ được phước đức lớn, được quả báo lớn, được quang minh lớn. Nên học như vậy”.

Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Các ngươi nghĩ sao, nếu có lực sĩ đem cái nồi lớn bằng sắt hay đồng đốt cháy hừng hực, rồi túm lấy người kia ném ngược vào trong đó; hoặc là từ các người Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, thợ thuyền để thọ lãnh sự tín thí, nhà cửa được tô trét đất bùn, cửa sổ và cửa lớn kín và chặt; có lò sưởi ấm áp. Đằng nào vui sướng hơn?”

Các Tỳ-kheo bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn, nếu có lực sĩ đem cái nồi lớn bằng sắt hay đồng đốt cháy hừng hực, rồi túm lấy người kia ném ngược vào trong đó; thế thì rất khổ. Bạch Thế Tôn, nếu từ các người Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, thợ thuyền mà thọ lãnh sự tín thí, nhà cửa được tô trét đất bùn, cửa sổ và cửa lớn kín và chặt; có lò sưởi ấm áp; thế thì rất vui sướng”.

Thế Tôn bảo rằng:

“Ta sẽ nói cho các ngươi biết, không để cho các ngươi học Sa-môn mà mất đạo Sa-môn. Các ngươi nếu muốn thành tựu phạm hạnh vô thượng thì thà để cho lực sĩ đem nồi lớn bằng đồng hay sắt đốt cháy hừng hực rồi tóm giở ngược lên quăng vào trong nồi, mặc dù vì như thế mà chịu đau khổ hoặc chết, nhưng không vì vậy mà khi thân hoại mạng chung thẳng đến ác xứ hay sanh vào địa ngục. Nếu người ngu si phạm giới, không tinh tấn, sanh ra ác pháp bất thiện, chẳng có phạm hạnh xưng là phạm hạnh, chẳng phải Sa-môn xưng là Sa-môn, rồi từ người Sát-lị, Bà-la-môn, cư sĩ thợ thuyền để nhận lãnh sự tín thí, nhà cửa được tô trét đất bùn, cửa sổ và cửa lớn kín và chặt; có lò sưởi ấm áp của người. Người ngu si đó vì thế mà mãi mãi không thiện, không nghĩa, thọ quả báo ác, sau khi thân hoại mạng chung, thẳng đến ác xứ, hay sanh vào địa ngục. Vì thế các ngươi nên quán sát nghĩa này, quán sát nghĩa kia, quán sát cả hai nghĩa. Nên nghĩ thế này: Ta xuất gia học đạo không phải vô ích, không phải luống không mà có quả có báo, có sự an lạc cùng cực, sinh đến thiện xứ, được trường thọ. Ta nhạn lãnh sự tín thí, áo mền, đồ ẩm thực, giường nệm, thuốc thang của người, là làm cho các thí chủ được phước đức lớn, được quả báo lớn, được quang minh lớn. Nên học như thế”.

Khi dạy bài pháp này, sáu mươi vị Tỳ-kheo dứt sạch các lậu, giải thoát kiết sử. Sáu mươi Tỳ-kheo xả giới hoàn tục. Sao vậy? Vì sự giáo huấn của Thế Tôn rất sâu, rất khó, sự học đạo lại rất sâu rất khó.

Phật dạy như thế. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải MA6...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc