Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
“Ta thấy người thanh tịnh, hoàn toàn khỏe mạnh;
chính cái thấy mới ban cho sự thanh tịnh.”
Khi nhớ lại quan niệm về sự tối thượng này,
họ tin vào quan niệm rằng có một người quán chiếu sự thanh tịnh.
Nếu một người được sự thanh tịnh qua cái được thấy,
hoặc nếu qua một quan niệm mà họ từ bỏ được khổ đau,
vậy là người có sự dính mắc được tự thanh tịnh nhờ cái khác:
cái nhìn của họ tố cáo họ là kẻ luôn nói vậy.
Bậc Bà-la-môn không nói rằng sự thanh tịnh đến từ cái khác
liên quan tới điều đã được thấy-nghe-nhận thức; hay giới cấm/nguyện.
Họ thanh nhã sống giữa tốt và xấu,
buông bỏ các khái niệm/vấn đề đang cầm, không tạo nên cái mới/sanh ác tại đây.
Đã để tuột tay với đối tượng mới bắt, nhặt được cái kế;
mải đuổi bắt, họ làm chậm không vượt nối các lề thói trói buộc (chain).
Họ chộp lấy và văng đi y như khỉ
cứ bám lấy - buông nhả một sợi rễ, một nhành cây.
Đã thực hiệu thệ nguyện tu nhưng, một môn đồ
vẫn cứ đi thăm viếng nhiều thầy, vẫn chấp thủ vào tưởng (nhận thức).
Người biết điều, hiểu hết được chân trí qua pháp/hiểu biết,
sẽ không thèm đi quanh thăm viếng các thầy có danh, trở thành đại chúng tuệ minh.
Họ dửng dưng coi nhẹ mọi pháp/việc đời
dù có nhìn-nghe hoặc nhớ/suy tưởng (không chấp).
Hãy chứng thật cách sống tự nhiên nơi họ,
Làm cách nào ai đó đánh giá chê khen?
Họ sẽ không vẽ vời lên hay lăng-xê chính họ (hoặc việc gì),
không kể rêu cho nhau có cực đại thanh tịnh.
Giọt buộc phiền não được cởi trói bứng khỏi,
họ chẳng bấu/nghĩ tới/đòi hỏi tham đồ cho những gì của cõi phù du.
Vị Bà-la-môn đã lấn bước qua ranh giới đó (Niết Bàn);
rõ rồi thấy tỏ thấu - không ôm-vác mang chi cả.
Chẳng mê mẩn ái ân nơi luyến khao/cảm xúc mạnh mẽ, chẳng thờ thẫn với thờ ơ dở dang,
Có nơi này chỗ đó cũng mặc tình kệ cho thành cái cuối cùng với cái cùng cực mà không dính (bám).
Passāmi suddhaṁ paramaṁ arogaṁ,
Diṭṭhena saṁsuddhi narassa hoti;
Evābhijānaṁ paramanti ñatvā,
Suddhānupassīti pacceti ñāṇaṁ.
Diṭṭhena ce suddhi narassa hoti,
Ñāṇena vā so pajahāti dukkhaṁ;
Aññena so sujjhati sopadhīko,
Diṭṭhī hi naṁ pāva tathā vadānaṁ.
Na brāhmaṇo aññato suddhimāha,
Diṭṭhe sute sīlavate mute vā;
Puññe ca pāpe ca anūpalitto,
Attañjaho nayidha pakubbamāno.
Purimaṁ pahāya aparaṁ sitāse,
Ejānugā te na taranti saṅgaṁ;
Te uggahāyanti nirassajanti,
Kapīva sākhaṁ pamuñcaṁ gahāyaṁ.
Sayaṁ samādāya vatāni jantu,
Uccāvacaṁ gacchati saññasatto;
Vidvā ca vedehi samecca dhammaṁ,
Na uccāvacaṁ gacchati bhūripañño.
Sa sabbadhammesu visenibhūto,
Yaṁ kiñci diṭṭhaṁ va sutaṁ mutaṁ vā;
Tameva dassiṁ vivaṭaṁ carantaṁ,
Kenīdha lokasmi vikappayeyya.
Na kappayanti na purekkharonti,
Accantasuddhīti na te vadanti;
Ādānaganthaṁ gathitaṁ visajja,
Āsaṁ na kubbanti kuhiñci loke.
Sīmātigo brāhmaṇo tassa natthi,
Ñatvā va disvā va samuggahītaṁ;
Na rāgarāgī na virāgaratto,
Tassīdha natthi paramuggahītanti.
Suddhaṭṭhakasuttaṁ catutthaṁ.
SC 1SC Verse 795“A pure one I see”, free completely from disease,
so by “seeing” such (it is said) one attains to purity.
Convinced about this and holding it highest
that one relies on this knowledge
while contemplating purity.
SC 2SC Verse 796But if a person by seeings’ purified
or if through such knowledge could leave dukkha aside
then one with assets still by another could be purified:
this view betrays one who speaks in this way.
SC 3SC Verse 797The Brahmin says not that “by another, one is purified”—
not by sights or by sounds, rites and vows and what’s sensed.
Such person’s not stuck upon merit or evil,
with selfishness renounced, constructing nothing here.
SC 4SC Verse 798Former (things) let go, then to other (things) attached,
following craving, their bondage, they do not overcross,
so they (continue) with grasping and discarding,
as monkey letting go a branch to seize upon another.
SC 5SC Verse 799A person undertaking (holy) vows goes high and low—
they waver, fettered by conditional perceptions.
But one who has learnt well and the Dharma penetrated
goes not up and down—
that one of wisdom profound.
SC 6SC Verse 800Within all the dharmas whether seen or they’re heard,
or otherwise sensed, this one fights not at all,
that one who sees them nakedly while faring to the end,
by whom in the world could he be described?
SC 7SC Verse 801They neither form views, show nothing’s preferred,
nor do they claim a purity supreme,
having loosened craving’s knot with which they were bound,
no longer they have longing for what’s in the world.
SC 8SC Verse 802Having Known, having Seen, there’s nothing to be grasped
by a Brahmin gone beyond all limitations,
neither lustful with lusts nor to lustlessness attached—
in this there is nothing that’s grasped as the highest.
“Ta thấy người thanh tịnh, hoàn toàn khỏe mạnh;
chính cái thấy mới ban cho sự thanh tịnh.”
Khi nhớ lại quan niệm về sự tối thượng này,
họ tin vào quan niệm rằng có một người quán chiếu sự thanh tịnh.
Nếu một người được sự thanh tịnh qua cái được thấy,
hoặc nếu qua một quan niệm mà họ từ bỏ được khổ đau,
vậy là người có sự dính mắc được tự thanh tịnh nhờ cái khác:
cái nhìn của họ tố cáo họ là kẻ luôn nói vậy.
Bậc Bà-la-môn không nói rằng sự thanh tịnh đến từ cái khác
liên quan tới điều đã được thấy-nghe-nhận thức; hay giới cấm/nguyện.
Họ thanh nhã sống giữa tốt và xấu,
buông bỏ các khái niệm/vấn đề đang cầm, không tạo nên cái mới/sanh ác tại đây.
Đã để tuột tay với đối tượng mới bắt, nhặt được cái kế;
mải đuổi bắt, họ làm chậm không vượt nối các lề thói trói buộc (chain).
Họ chộp lấy và văng đi y như khỉ
cứ bám lấy - buông nhả một sợi rễ, một nhành cây.
Đã thực hiệu thệ nguyện tu nhưng, một môn đồ
vẫn cứ đi thăm viếng nhiều thầy, vẫn chấp thủ vào tưởng (nhận thức).
Người biết điều, hiểu hết được chân trí qua pháp/hiểu biết,
sẽ không thèm đi quanh thăm viếng các thầy có danh, trở thành đại chúng tuệ minh.
Họ dửng dưng coi nhẹ mọi pháp/việc đời
dù có nhìn-nghe hoặc nhớ/suy tưởng (không chấp).
Hãy chứng thật cách sống tự nhiên nơi họ,
Làm cách nào ai đó đánh giá chê khen?
Họ sẽ không vẽ vời lên hay lăng-xê chính họ (hoặc việc gì),
không kể rêu cho nhau có cực đại thanh tịnh.
Giọt buộc phiền não được cởi trói bứng khỏi,
họ chẳng bấu/nghĩ tới/đòi hỏi tham đồ cho những gì của cõi phù du.
Vị Bà-la-môn đã lấn bước qua ranh giới đó (Niết Bàn);
rõ rồi thấy tỏ thấu - không ôm-vác mang chi cả.
Chẳng mê mẩn ái ân nơi luyến khao/cảm xúc mạnh mẽ, chẳng thờ thẫn với thờ ơ dở dang,
Có nơi này chỗ đó cũng mặc tình kệ cho thành cái cuối cùng với cái cùng cực mà không dính (bám).
Passāmi suddhaṁ paramaṁ arogaṁ,
Diṭṭhena saṁsuddhi narassa hoti;
Evābhijānaṁ paramanti ñatvā,
Suddhānupassīti pacceti ñāṇaṁ.
Diṭṭhena ce suddhi narassa hoti,
Ñāṇena vā so pajahāti dukkhaṁ;
Aññena so sujjhati sopadhīko,
Diṭṭhī hi naṁ pāva tathā vadānaṁ.
Na brāhmaṇo aññato suddhimāha,
Diṭṭhe sute sīlavate mute vā;
Puññe ca pāpe ca anūpalitto,
Attañjaho nayidha pakubbamāno.
Purimaṁ pahāya aparaṁ sitāse,
Ejānugā te na taranti saṅgaṁ;
Te uggahāyanti nirassajanti,
Kapīva sākhaṁ pamuñcaṁ gahāyaṁ.
Sayaṁ samādāya vatāni jantu,
Uccāvacaṁ gacchati saññasatto;
Vidvā ca vedehi samecca dhammaṁ,
Na uccāvacaṁ gacchati bhūripañño.
Sa sabbadhammesu visenibhūto,
Yaṁ kiñci diṭṭhaṁ va sutaṁ mutaṁ vā;
Tameva dassiṁ vivaṭaṁ carantaṁ,
Kenīdha lokasmi vikappayeyya.
Na kappayanti na purekkharonti,
Accantasuddhīti na te vadanti;
Ādānaganthaṁ gathitaṁ visajja,
Āsaṁ na kubbanti kuhiñci loke.
Sīmātigo brāhmaṇo tassa natthi,
Ñatvā va disvā va samuggahītaṁ;
Na rāgarāgī na virāgaratto,
Tassīdha natthi paramuggahītanti.
Suddhaṭṭhakasuttaṁ catutthaṁ.