Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
“Những ai trước đây đã trả lời con,”
Tôn giả Hemaka nói,
“trước khi có giáo pháp của Cù-đàm,
nói rằng 'trước kia là vậy' hay 'sau này sẽ vậy.'
Tất cả chỉ là lời truyền thừa nghe được;
tất cả chỉ nuôi dưỡng sự suy tư:
con không tìm thấy niềm vui trong đó.
Nhưng xin bậc Hiền Giả hãy giải thích cho con
giáo pháp đoạn trừ ái dục.
Ai hiểu được điều ấy, sống chánh niệm
có thể vượt qua chấp thủ trong đời.”
“Sự loại bỏ dục và tham, này Hemaka,
đối với những gì được thấy, nghe, suy tư, hay nhận thức ở đây;
đối với bất cứ điều gì ưa thích hay ghét bỏ,
là sự tịch diệt, trạng thái không còn qua lại.
Những ai đã liễu tri trọn vẹn điều này, chánh niệm,
được tịch tĩnh ngay trong đời này.
Luôn an tịnh,
họ đã vượt qua chấp thủ trong đời.”
“Ye me pubbe viyākaṁsu,
(iccāyasmā hemako)
Huraṁ gotamasāsanā;
Iccāsi iti bhavissati,
Sabbaṁ taṁ itihītihaṁ;
Sabbaṁ taṁ takkavaḍḍhanaṁ,
Nāhaṁ tattha abhiramiṁ.
Tvañca me dhammamakkhāhi,
taṇhānigghātanaṁ muni;
Yaṁ viditvā sato caraṁ,
tare loke visattikaṁ”.
“Idha diṭṭhasutamutaviññātesu,
Piyarūpesu hemaka;
Chandarāgavinodanaṁ,
Nibbānapadamaccutaṁ.
Etadaññāya ye satā,
Diṭṭhadhammābhinibbutā;
Upasantā ca te sadā,
Tiṇṇā loke visattikan”ti.
Hemakamāṇavapucchā aṭṭhamā.
SC 1SC Verse 1091Hemaka
Those elders outside Gotama’s teaching-path
explained their doctrines in this way:
“so it was and so will be”—
all that was but traditional lore,
all that increased uncertainty,
And I took no delight in it.
SC 2SC Verse 1092Please, O Sage, explain to me
Dhamma destroying craving now,
knowing which the mindful fare,
and cross the world’s entanglements.
SC 3SC Verse 1093Buddha
Here among all those pleasing things—
the seen and the heard, the sensed and thought—
whose wants removed and passion too—
this the unchanging Nirvāṇa-state.
SC 4SC Verse 1094With Final Knowledge those mindful ones,
now-seen the Dharma, cool-become
and ever they at peace remain,
they’ve crossed the world’s entanglements.
“Những ai trước đây đã trả lời con,”
Tôn giả Hemaka nói,
“trước khi có giáo pháp của Cù-đàm,
nói rằng 'trước kia là vậy' hay 'sau này sẽ vậy.'
Tất cả chỉ là lời truyền thừa nghe được;
tất cả chỉ nuôi dưỡng sự suy tư:
con không tìm thấy niềm vui trong đó.
Nhưng xin bậc Hiền Giả hãy giải thích cho con
giáo pháp đoạn trừ ái dục.
Ai hiểu được điều ấy, sống chánh niệm
có thể vượt qua chấp thủ trong đời.”
“Sự loại bỏ dục và tham, này Hemaka,
đối với những gì được thấy, nghe, suy tư, hay nhận thức ở đây;
đối với bất cứ điều gì ưa thích hay ghét bỏ,
là sự tịch diệt, trạng thái không còn qua lại.
Những ai đã liễu tri trọn vẹn điều này, chánh niệm,
được tịch tĩnh ngay trong đời này.
Luôn an tịnh,
họ đã vượt qua chấp thủ trong đời.”
“Ye me pubbe viyākaṁsu,
(iccāyasmā hemako)
Huraṁ gotamasāsanā;
Iccāsi iti bhavissati,
Sabbaṁ taṁ itihītihaṁ;
Sabbaṁ taṁ takkavaḍḍhanaṁ,
Nāhaṁ tattha abhiramiṁ.
Tvañca me dhammamakkhāhi,
taṇhānigghātanaṁ muni;
Yaṁ viditvā sato caraṁ,
tare loke visattikaṁ”.
“Idha diṭṭhasutamutaviññātesu,
Piyarūpesu hemaka;
Chandarāgavinodanaṁ,
Nibbānapadamaccutaṁ.
Etadaññāya ye satā,
Diṭṭhadhammābhinibbutā;
Upasantā ca te sadā,
Tiṇṇā loke visattikan”ti.
Hemakamāṇavapucchā aṭṭhamā.