Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Tôi nghe như vầy.
Một thời, khi mới giác ngộ, Đức Phật trú tại Uruvelā, dưới gốc cây giác ngộ, bờ sông Nerañjarā.
Tại đó Đức Phật ngồi kiết-già suốt bảy ngày, thọ hưởng lạc giải thoát.
Khi bảy ngày trôi qua, Đức Phật xuất thiền. Trong canh đầu, Ngài chú tâm quán Duyên Khởi theo chiều thuận:
\"Khi cái này có, cái kia sanh; do sự sanh khởi cái này, cái kia khởi. Tức là:
Vô minh là duyên cho hành.
Hành là duyên cho thức.
Thức là duyên cho danh sắc.
Danh sắc là duyên cho lục nhập.
Lục nhập là duyên cho xúc.
Xúc là duyên cho thọ.
Thọ là duyên cho ái.
Ái là duyên cho thủ.
Thủ là duyên cho hữu.
Hữu là duyên cho sanh.
Sanh là duyên cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi.
Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này sanh khởi.\"
Rồi hiểu rõ vấn đề, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên:
\"Khi các pháp trở nên rõ ràng
cho Bà-la-môn tinh cần thiền định,
nghi ngờ tiêu tan,
vì đã hiểu mỗi pháp và nhân duyên của nó.\"
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā uruvelāyaṁ viharati najjā nerañjarāya tīre bodhirukkhamūle paṭhamābhisambuddho.
Tena kho pana samayena bhagavā sattāhaṁ ekapallaṅkena nisinno hoti vimuttisukhapaṭisaṁvedī.
Atha kho bhagavā tassa sattāhassa accayena tamhā samādhimhā vuṭṭhahitvā rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ paṭiccasamuppādaṁ anulomaṁ sādhukaṁ manasākāsi:
“Iti imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati, yadidaṁ—
avijjāpaccayā saṅkhārā,
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ,
viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ,
nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ,
saḷāyatanapaccayā phasso,
phassapaccayā vedanā,
vedanāpaccayā taṇhā,
taṇhāpaccayā upādānaṁ,
upādānapaccayā bhavo,
bhavapaccayā jāti,
jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotī”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Yadā have pātubhavanti dhammā,
Ātāpino jhāyato brāhmaṇassa;
Athassa kaṅkhā vapayanti sabbā,
Yato pajānāti sahetudhamman”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Uruvelā, on the bank of the river Nerañjarā, at the root of the Awakening tree, in the first period after attaining Awakening. Then at that time the Gracious One was sitting in one cross-legged posture for seven days experiencing the happiness of freedom. Then with the passing of those seven days, the Gracious One, after arising from that concentration, for the first watch of the night, applied his mind thoroughly to conditional origination in forward order:
SC 2“This being so, that is; from the arising of this, that arises, that is to say: because of ignorance there are volitional processes, because of volitional processes: consciousness, because of consciousness: mind and body, because of mind and body: the six sense spheres, because of the six sense spheres: contact, because of contact: feeling, because of feeling: craving, because of craving: attachment, because of attachment: continuation, because of continuation: birth, because of birth: old age, death, grief, lamentation, pain, sorrow, and despair all arise, and so there is an origination of this whole mass of suffering.”
SC 3Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 4“When the nature of things becomes really manifest
To the ardent meditating brāhmaṇa,
Then all his doubts disappear,
Since he knows the nature of a thing and its cause.”
Tôi nghe như vầy.
Một thời, khi mới giác ngộ, Đức Phật trú tại Uruvelā, dưới gốc cây giác ngộ, bờ sông Nerañjarā.
Tại đó Đức Phật ngồi kiết-già suốt bảy ngày, thọ hưởng lạc giải thoát.
Khi bảy ngày trôi qua, Đức Phật xuất thiền. Trong canh đầu, Ngài chú tâm quán Duyên Khởi theo chiều thuận:
\"Khi cái này có, cái kia sanh; do sự sanh khởi cái này, cái kia khởi. Tức là:
Vô minh là duyên cho hành.
Hành là duyên cho thức.
Thức là duyên cho danh sắc.
Danh sắc là duyên cho lục nhập.
Lục nhập là duyên cho xúc.
Xúc là duyên cho thọ.
Thọ là duyên cho ái.
Ái là duyên cho thủ.
Thủ là duyên cho hữu.
Hữu là duyên cho sanh.
Sanh là duyên cho lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi.
Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này sanh khởi.\"
Rồi hiểu rõ vấn đề, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên:
\"Khi các pháp trở nên rõ ràng
cho Bà-la-môn tinh cần thiền định,
nghi ngờ tiêu tan,
vì đã hiểu mỗi pháp và nhân duyên của nó.\"
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā uruvelāyaṁ viharati najjā nerañjarāya tīre bodhirukkhamūle paṭhamābhisambuddho.
Tena kho pana samayena bhagavā sattāhaṁ ekapallaṅkena nisinno hoti vimuttisukhapaṭisaṁvedī.
Atha kho bhagavā tassa sattāhassa accayena tamhā samādhimhā vuṭṭhahitvā rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ paṭiccasamuppādaṁ anulomaṁ sādhukaṁ manasākāsi:
“Iti imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati, yadidaṁ—
avijjāpaccayā saṅkhārā,
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ,
viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ,
nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ,
saḷāyatanapaccayā phasso,
phassapaccayā vedanā,
vedanāpaccayā taṇhā,
taṇhāpaccayā upādānaṁ,
upādānapaccayā bhavo,
bhavapaccayā jāti,
jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotī”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Yadā have pātubhavanti dhammā,
Ātāpino jhāyato brāhmaṇassa;
Athassa kaṅkhā vapayanti sabbā,
Yato pajānāti sahetudhamman”ti.
Paṭhamaṁ.