Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Tôi nghe như vầy.
Một thời Đức Phật trú gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi cho sóc ăn.
Bấy giờ khi Tôn giả Upasena con trai Vaṅgantā đang ở chỗ riêng tư tu tập, ý nghĩ này khởi lên:
\"Ta thật may mắn, thật vô cùng may mắn!
Thầy ta là Đức Thế Tôn, bậc Toàn Giác, Chánh Đẳng Giác.
Giáo pháp và giới luật mà ta đã xuất gia từ đời cư sĩ sang đời không nhà được khéo thuyết giảng.
Các bạn đồng tu của ta đều có giới hạnh và đức tính tốt.
Ta đã trọn vẹn giới luật.
Tâm ta nhất tâm và an tịnh.
Ta là bậc A-la-hán đã chấm dứt phiền não.
Ta có đại uy lực và thần thông.
Đời ta đã tốt đẹp, và sự chết của ta cũng sẽ tốt đẹp.\"
Rồi biết được dòng tư duy của Tôn giả Upasena, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên:
\"Ai sống không có tội,
không sầu khi đối diện cái chết:
người chú tâm đã thấy chân lý ấy,
không sầu giữa đám người đang sầu.
Đối với vị tỳ-kheo tâm an tịnh,
đã cắt đứt tham ái hữu,
luân hồi qua các kiếp đã chấm dứt,
không còn đời sau cho vị ấy nữa.\"
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho āyasmato upasenassa vaṅgantaputtassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
satthā ca me bhagavā arahaṁ sammāsambuddho;
svākkhāte camhi dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajito;
sabrahmacārino ca me sīlavanto kalyāṇadhammā;
sīlesu camhi paripūrakārī;
susamāhito camhi ekaggacitto;
arahā camhi khīṇāsavo;
mahiddhiko camhi mahānubhāvo.
Bhaddakaṁ me jīvitaṁ, bhaddakaṁ maraṇan”ti.
Atha kho bhagavā āyasmato upasenassa vaṅgantaputtassa cetasā cetoparivitakkamaññāya tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Yaṁ jīvitaṁ na tapati,
maraṇante na socati;
Sa ve diṭṭhapado dhīro,
sokamajjhe na socati.
Ucchinnabhavataṇhassa,
santacittassa bhikkhuno;
Vikkhīṇo jātisaṁsāro,
natthi tassa punabbhavo”ti.
Navamaṁ.
SC 1Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Rājagaha, in Bamboo Wood, at the Squirrels’ Feeding Place. Then when venerable Upasena Vaṅgantaputta had gone into hiding, into seclusion, this reflection arose in his mind:
SC 2“There are certainly gains for me, it is certainly a good gain for me, that my teacher is the Gracious One, the Worthy One, the Perfect Sambuddha, and that I have gone forth from the home to homelessness in such a well explained Dhamma and Discipline, and that my companions in the spiritual life are virtuous, of good character, and that I have fulfilled the virtuous precepts, and that I am composed, and that my mind is one pointed, and that I am a Worthy One, pollutant-free, and that I am of great power, of great majesty. My life has been fortunate, and my death will be fortunate.”
SC 3Then the Gracious One, knowing with his mind the reflection in venerable Upasena Vaṅgantaputta’s mind, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 4“He whom life does not torment, who does not grieve at the end in death,
If that firm one is one who has seen the state of peace, in the midst of grief he does not grieve.
SC 5“For the monk who has cut off the craving for continuity, whose mind is at peace,
Having totally destroyed the round of births, for him there is no continuation in existence.”
Tôi nghe như vầy.
Một thời Đức Phật trú gần Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi cho sóc ăn.
Bấy giờ khi Tôn giả Upasena con trai Vaṅgantā đang ở chỗ riêng tư tu tập, ý nghĩ này khởi lên:
\"Ta thật may mắn, thật vô cùng may mắn!
Thầy ta là Đức Thế Tôn, bậc Toàn Giác, Chánh Đẳng Giác.
Giáo pháp và giới luật mà ta đã xuất gia từ đời cư sĩ sang đời không nhà được khéo thuyết giảng.
Các bạn đồng tu của ta đều có giới hạnh và đức tính tốt.
Ta đã trọn vẹn giới luật.
Tâm ta nhất tâm và an tịnh.
Ta là bậc A-la-hán đã chấm dứt phiền não.
Ta có đại uy lực và thần thông.
Đời ta đã tốt đẹp, và sự chết của ta cũng sẽ tốt đẹp.\"
Rồi biết được dòng tư duy của Tôn giả Upasena, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên:
\"Ai sống không có tội,
không sầu khi đối diện cái chết:
người chú tâm đã thấy chân lý ấy,
không sầu giữa đám người đang sầu.
Đối với vị tỳ-kheo tâm an tịnh,
đã cắt đứt tham ái hữu,
luân hồi qua các kiếp đã chấm dứt,
không còn đời sau cho vị ấy nữa.\"
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho āyasmato upasenassa vaṅgantaputtassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
satthā ca me bhagavā arahaṁ sammāsambuddho;
svākkhāte camhi dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajito;
sabrahmacārino ca me sīlavanto kalyāṇadhammā;
sīlesu camhi paripūrakārī;
susamāhito camhi ekaggacitto;
arahā camhi khīṇāsavo;
mahiddhiko camhi mahānubhāvo.
Bhaddakaṁ me jīvitaṁ, bhaddakaṁ maraṇan”ti.
Atha kho bhagavā āyasmato upasenassa vaṅgantaputtassa cetasā cetoparivitakkamaññāya tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Yaṁ jīvitaṁ na tapati,
maraṇante na socati;
Sa ve diṭṭhapado dhīro,
sokamajjhe na socati.
Ucchinnabhavataṇhassa,
santacittassa bhikkhuno;
Vikkhīṇo jātisaṁsāro,
natthi tassa punabbhavo”ti.
Navamaṁ.