Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, đứa con duy nhất thân yêu quý mến của một cư sĩ vừa qua đời.
Rồi vào giữa trưa, một số cư sĩ với y phục và tóc ướt đi đến Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi qua một bên. Đức Phật nói với họ:
“Tại sao các cư sĩ đến đây giữa trưa với y phục và tóc ướt?”
Vị cư sĩ đáp:
“Bạch Thế Tôn, đứa con duy nhất thân yêu quý mến của con đã qua đời.
Vì vậy chúng con đến đây giữa trưa với y phục và tóc ướt.”
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Chư thiên và phần lớn loài người đều bị trói buộc
vào những gì có vẻ thân yêu, dễ chịu.
Khốn khổ và kiệt sức,
họ rơi vào quyền lực Vua Chết.
Những ai tinh cần, ngày đêm
từ bỏ những gì có vẻ dễ chịu,
nhổ gốc rễ u ám—
mồi của Tử Thần khó mà thoát.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena aññatarassa upāsakassa ekaputtako piyo manāpo kālaṅkato hoti.
Atha kho sambahulā upāsakā allavatthā allakesā divā divassa yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te upāsake bhagavā etadavoca:
“kiṁ nu kho tumhe, upāsakā, allavatthā allakesā idhūpasaṅkamantā divā divassā”ti?
Evaṁ vutte, so upāsako bhagavantaṁ etadavoca:
“mayhaṁ kho, bhante, ekaputtako piyo manāpo kālaṅkato.
Tena mayaṁ allavatthā allakesā idhūpasaṅkamantā divā divassā”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Piyarūpassādagadhitāse,
Devakāyā puthu manussā ca;
Aghāvino parijunnā,
Maccurājassa vasaṁ gacchanti.
Ye ve divā ca ratto ca,
Appamattā jahanti piyarūpaṁ;
Te ve khaṇanti aghamūlaṁ,
Maccuno āmisaṁ durativattan”ti.
Sattamaṁ.
SC 1Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Sāvatthī, in Jeta’s Wood, at Anāthapiṇḍika’s monastery. Then at that time a certain lay follower’s only son, who was beloved and dear, had died. Then many lay followers, with wet clothes and hair, in the middle of the day went to the Gracious One, and after going and worshipping the Gracious One, they sat down on one side. While sat on one side the Gracious One said this to those lay followers:
SC 2“Now why are you lay followers, with wet clothes and hair, coming here in the middle of the day?”
SC 3When that was said, that lay follower said this to the Gracious One: “My only son, who was beloved and dear, reverend Sir, has died. That is why we, with wet clothes and hair, are coming here in the middle of the day.”
SC 4Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 5“Hosts of devas and many men are tied by the satisfaction in forms that are loved,
Miserable and worn out, they come under the power of the King of Death.
SC 6“For sure those who are heedful day and night, give up forms that are loved—
They surely dig up the root of misery which is Death’s bait,
so difficult to transcend.”
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, đứa con duy nhất thân yêu quý mến của một cư sĩ vừa qua đời.
Rồi vào giữa trưa, một số cư sĩ với y phục và tóc ướt đi đến Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi qua một bên. Đức Phật nói với họ:
“Tại sao các cư sĩ đến đây giữa trưa với y phục và tóc ướt?”
Vị cư sĩ đáp:
“Bạch Thế Tôn, đứa con duy nhất thân yêu quý mến của con đã qua đời.
Vì vậy chúng con đến đây giữa trưa với y phục và tóc ướt.”
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Chư thiên và phần lớn loài người đều bị trói buộc
vào những gì có vẻ thân yêu, dễ chịu.
Khốn khổ và kiệt sức,
họ rơi vào quyền lực Vua Chết.
Những ai tinh cần, ngày đêm
từ bỏ những gì có vẻ dễ chịu,
nhổ gốc rễ u ám—
mồi của Tử Thần khó mà thoát.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena aññatarassa upāsakassa ekaputtako piyo manāpo kālaṅkato hoti.
Atha kho sambahulā upāsakā allavatthā allakesā divā divassa yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te upāsake bhagavā etadavoca:
“kiṁ nu kho tumhe, upāsakā, allavatthā allakesā idhūpasaṅkamantā divā divassā”ti?
Evaṁ vutte, so upāsako bhagavantaṁ etadavoca:
“mayhaṁ kho, bhante, ekaputtako piyo manāpo kālaṅkato.
Tena mayaṁ allavatthā allakesā idhūpasaṅkamantā divā divassā”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Piyarūpassādagadhitāse,
Devakāyā puthu manussā ca;
Aghāvino parijunnā,
Maccurājassa vasaṁ gacchanti.
Ye ve divā ca ratto ca,
Appamattā jahanti piyarūpaṁ;
Te ve khaṇanti aghamūlaṁ,
Maccuno āmisaṁ durativattan”ti.
Sattamaṁ.