Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, Đức Phật đang giáo huấn, khuyến khích, tác động và truyền cảm hứng cho các tỳ-kheo bằng bài Pháp về Niết-bàn.
Và các tỳ-kheo ấy đang chú tâm, dụng tâm, tập trung toàn vẹn và lắng nghe tích cực.
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Này các tỳ-kheo, có một cảnh giới mà ở đó không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió; không có Không Vô Biên Xứ, không có Thức Vô Biên Xứ, không có Vô Sở Hữu Xứ, không có Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ; không có thế giới này, không có thế giới khác, không có mặt trăng hay mặt trời.
Ở đó, này các tỳ-kheo, Ta nói không có đến hay đi, không có trú hay diệt hay tái sinh.
Nó không được thiết lập, không tiến hành, và không có nền tảng.
Đây chính là sự chấm dứt khổ đau.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena bhagavā bhikkhū nibbānapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti.
Tedha bhikkhū aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbaṁ cetaso samannāharitvā ohitasotā dhammaṁ suṇanti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Atthi, bhikkhave, tadāyatanaṁ, yattha neva pathavī, na āpo, na tejo, na vāyo, na ākāsānañcāyatanaṁ, na viññāṇañcāyatanaṁ, na ākiñcaññāyatanaṁ, na nevasaññānāsaññāyatanaṁ, nāyaṁ loko, na paraloko, na ubho candimasūriyā.
Tatrāpāhaṁ, bhikkhave, neva āgatiṁ vadāmi, na gatiṁ, na ṭhitiṁ, na cutiṁ, na upapattiṁ;
appatiṭṭhaṁ, appavattaṁ, anārammaṇamevetaṁ.
Esevanto dukkhassā”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Sāvatthī, in Jeta’s Wood, at Anāthapiṇḍika’s monastery. Then at that time the Gracious One was instructing, rousing, enthusing, and cheering the monks with a Dhamma talk connected with Emancipation. Those monks, after making it their goal, applying their minds, considering it with all their mind, were listening to Dhamma with an attentive ear.
SC 2Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 3“There is that sphere, monks, where there is no earth, no water, no fire, no air, no sphere of infinite space, no sphere of infinite consciousness, no sphere of nothingness, no sphere of neither perception nor non-perception, no this world, no world beyond, neither Moon nor Sun. There, monks, I say there is surely no coming, no going, no persisting, no passing away, no rebirth It is quite without support, unmoving, without an object,—just this is the end of suffering.”
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, Đức Phật đang giáo huấn, khuyến khích, tác động và truyền cảm hứng cho các tỳ-kheo bằng bài Pháp về Niết-bàn.
Và các tỳ-kheo ấy đang chú tâm, dụng tâm, tập trung toàn vẹn và lắng nghe tích cực.
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Này các tỳ-kheo, có một cảnh giới mà ở đó không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió; không có Không Vô Biên Xứ, không có Thức Vô Biên Xứ, không có Vô Sở Hữu Xứ, không có Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ; không có thế giới này, không có thế giới khác, không có mặt trăng hay mặt trời.
Ở đó, này các tỳ-kheo, Ta nói không có đến hay đi, không có trú hay diệt hay tái sinh.
Nó không được thiết lập, không tiến hành, và không có nền tảng.
Đây chính là sự chấm dứt khổ đau.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena bhagavā bhikkhū nibbānapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti.
Tedha bhikkhū aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbaṁ cetaso samannāharitvā ohitasotā dhammaṁ suṇanti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Atthi, bhikkhave, tadāyatanaṁ, yattha neva pathavī, na āpo, na tejo, na vāyo, na ākāsānañcāyatanaṁ, na viññāṇañcāyatanaṁ, na ākiñcaññāyatanaṁ, na nevasaññānāsaññāyatanaṁ, nāyaṁ loko, na paraloko, na ubho candimasūriyā.
Tatrāpāhaṁ, bhikkhave, neva āgatiṁ vadāmi, na gatiṁ, na ṭhitiṁ, na cutiṁ, na upapattiṁ;
appatiṭṭhaṁ, appavattaṁ, anārammaṇamevetaṁ.
Esevanto dukkhassā”ti.
Paṭhamaṁ.