Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Tôi nghe như vầy.
Thuở ấy, Đức Phật đang trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ly-bà-đa Nghi đang ngồi cách Đức Phật không xa, xếp bằng, thân thẳng, quán xét sự thanh tịnh của chính mình qua việc vượt thoát nghi hoặc.
Đức Phật thấy vị ấy đang thiền tọa như vậy.
Rồi Đức Thế Tôn hiểu rõ sự việc này, và nhân dịp ấy đã nói lên lời cảm hứng:
“Bất kỳ nghi ngờ nào về đời này hay đời sau,
về kinh nghiệm của mình hay của người khác:
những ai tu thiền đều buông bỏ tất cả,
tinh cần hành trì đời sống phạm hạnh.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā kaṅkhārevato bhagavato avidūre nisinno hoti pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya attano kaṅkhāvitaraṇavisuddhiṁ paccavekkhamāno.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ kaṅkhārevataṁ avidūre nisinnaṁ pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya attano kaṅkhāvitaraṇavisuddhiṁ paccavekkhamānaṁ.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Yā kāci kaṅkhā idha vā huraṁ vā,
Sakavediyā vā paravediyā vā;
Ye jhāyino tā pajahanti sabbā,
Ātāpino brahmacariyaṁ carantā”ti.
Sattamaṁ.
SC 1Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Sāvatthī, in Jeta’s Wood, at Anāthapiṇḍika’s monastery. Then at that time venerable Kaṅkhārevata Doubting Revata was sitting not far away from the Gracious One, after folding his legs crosswise, and setting his body straight, reflecting on his own purification through crossing over doubt.
SC 2The Gracious One saw venerable Kaṅkhārevata sat not far away, after folding his legs crosswise, and setting his body straight, reflecting on his own purification through crossing over doubt.
SC 3Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 4“Whatever doubts there are about here or hereafter,
Understandable by oneself, or understandable by another,
The meditators give up all these,
The ardent ones living the spiritual life.”
Tôi nghe như vầy.
Thuở ấy, Đức Phật đang trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ly-bà-đa Nghi đang ngồi cách Đức Phật không xa, xếp bằng, thân thẳng, quán xét sự thanh tịnh của chính mình qua việc vượt thoát nghi hoặc.
Đức Phật thấy vị ấy đang thiền tọa như vậy.
Rồi Đức Thế Tôn hiểu rõ sự việc này, và nhân dịp ấy đã nói lên lời cảm hứng:
“Bất kỳ nghi ngờ nào về đời này hay đời sau,
về kinh nghiệm của mình hay của người khác:
những ai tu thiền đều buông bỏ tất cả,
tinh cần hành trì đời sống phạm hạnh.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā kaṅkhārevato bhagavato avidūre nisinno hoti pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya attano kaṅkhāvitaraṇavisuddhiṁ paccavekkhamāno.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ kaṅkhārevataṁ avidūre nisinnaṁ pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya attano kaṅkhāvitaraṇavisuddhiṁ paccavekkhamānaṁ.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Yā kāci kaṅkhā idha vā huraṁ vā,
Sakavediyā vā paravediyā vā;
Ye jhāyino tā pajahanti sabbā,
Ātāpino brahmacariyaṁ carantā”ti.
Sattamaṁ.