Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Đức Phật trú gần thành Xá-vệ, tại Kỳ-đà Lâm, tinh xá của ông Cấp Cô Độc.
Rồi Tôn giả A-nan đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ Ngài, rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, chừng nào các bậc Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác chưa xuất hiện trên đời, thì các ngoại đạo du sĩ được tôn trọng, kính ngưỡng, cúng dường, đảnh lễ và tán thán. Và họ nhận được y phục, vật thực, trú xứ, thuốc men và vật dụng cho người bệnh.
Nhưng khi các bậc Như Lai xuất hiện trên đời, thì các ngoại đạo du sĩ không còn được tôn trọng, kính ngưỡng, cúng dường, đảnh lễ và tán thán nữa. Và họ không nhận được y phục, vật thực, trú xứ, thuốc men và vật dụng cho người bệnh.
Bấy giờ, chỉ có Đức Phật được tôn trọng, kính ngưỡng, cúng dường, đảnh lễ và tán thán. Và Ngài nhận được y phục, vật thực, trú xứ, thuốc men và vật dụng cho người bệnh.”
“Đúng vậy, A-nan. Chừng nào các bậc Như Lai chưa xuất hiện trên đời, thì các ngoại đạo du sĩ được tôn trọng, kính ngưỡng, cúng dường, đảnh lễ và tán thán. Và họ nhận được y phục, vật thực, trú xứ, thuốc men và vật dụng cho người bệnh.
Nhưng khi các bậc Như Lai xuất hiện trên đời, thì các ngoại đạo du sĩ không còn được tôn trọng theo cách này nữa.
Bấy giờ, chỉ có bậc Như Lai được tôn trọng, kính ngưỡng, cúng dường, đảnh lễ và tán thán. Và Ngài nhận được y phục, vật thực, trú xứ, thuốc men và vật dụng cho người bệnh. Và Tăng-già khất sĩ cũng vậy.”
Rồi, thấu hiểu ý nghĩa này, nhân dịp ấy Đức Phật đã nói lên lời cảm hứng ngữ này:
“Đom đóm chiếu sáng chừng nào
Ánh sáng mặt trời chưa rạng.
Nhưng khi mặt trời đã mọc,
Ánh kia bị xóa, chẳng còn chiếu soi.
Cũng vậy, các biện luận sư rạng rỡ
Chừng nào chư Phật chưa hiện trên đời.
Các biện luận sư chẳng thanh tịnh, đệ tử họ cũng vậy.
Mang tà kiến, họ chẳng giải thoát khỏi khổ đau.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhante, tathāgatā loke nuppajjanti arahanto sammāsambuddhā tāva aññatitthiyā paribbājakā sakkatā honti garukatā mānitā pūjitā apacitā lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Yato ca kho, bhante, tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā atha aññatitthiyā paribbājakā asakkatā honti agarukatā amānitā apūjitā anapacitā na lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Bhagavāyeva dāni, bhante, sakkato hoti garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ, bhikkhusaṅgho cā”ti.
“Evametaṁ, ānanda, yāvakīvañca, ānanda, tathāgatā loke nuppajjanti arahanto sammāsambuddhā tāva aññatitthiyā paribbājakā sakkatā honti garukatā mānitā pūjitā apacitā lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Yato ca kho, ānanda, tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā atha aññatitthiyā paribbājakā asakkatā honti agarukatā amānitā apūjitā anapacitā na lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Tathāgatova dāni sakkato hoti garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ, bhikkhusaṅgho cā”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Obhāsati tāva so kimi,
Yāva na unnamate pabhaṅkaro;
Sa verocanamhi uggate,
Hatappabho hoti na cāpi bhāsati.
Evaṁ obhāsitameva takkikānaṁ,
Yāva sammāsambuddhā loke nuppajjanti;
Na takkikā sujjhanti na cāpi sāvakā,
Duddiṭṭhī na dukkhā pamuccare”ti.
Dasamaṁ.
Tassuddānaṁ
Āyujaṭilavekkhaṇā,
tayo titthiyā subhūti;
Gaṇikā upāti navamo,
uppajjanti ca te dasāti.
Jaccandhavaggo chaṭṭho.
SC 1Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Sāvatthī, in Jeta’s Wood, at Anāthapiṇḍika’s monastery. Then at that time venerable Ānanda went to the Gracious One, and after going and worshipping the Gracious One, he sat down on one side.
SC 2While sat on one side venerable Ānanda said this to the Gracious One: “For as long as the Realised Ones, reverend Sir, do not arise in the world, the Worthy Ones, the Perfect Sambuddhas, for that long the wanderers from other sects are venerated, respected, revered, honoured, esteemed, and in receipt of robes, almsfood, dwellings, and medicinal requisites to help when sick. But when the Realised Ones, reverend Sir, do arise in the world, the Worthy Ones, the Perfect Sambuddhas, then the wanderers from other sects are not venerated, not respected, not revered, not honoured, not esteemed, and are not in receipt of robes, almsfood, dwellings, and medicinal requisites to help when sick. Now, reverend Sir, the Gracious One is venerated, respected, revered, honoured, esteemed, and in receipt of robes, almsfood, dwellings, and medicinal requisites to help when sick, and so is the Community of monks.”
SC 3“Just so, Ānanda, for as long as the Realised Ones, Ānanda, do not arise in the world, the Worthy Ones, the Perfect Sambuddhas, for that long the wanderers from other sects are venerated, respected, revered, honoured, esteemed, and in receipt of robes, almsfood, dwellings, and medicinal requisites to help when sick. But when the Realised Ones, Ānanda, do arise in the world, the Worthy Ones, the Perfect Sambuddhas, then the wanderers from other sects are not venerated, not respected, not revered, not honoured, not esteemed, and are not in receipt of robes, almsfood, dwellings, and medicinal requisites to help when sick. Now the Realised One is venerated, respected, revered, honoured, esteemed, and in receipt of robes, almsfood, dwellings, and medicinal requisites to help when sick, and so is the Community of monks.”
SC 4Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 5“The glow worm shines forth for as long as the light-maker the sun does not rise,
But when the brilliant one the sun has risen,
The glow worm’s light is destroyed, and does not shine forth.
SC 6In the same way the reasoners shine forth for
as long as the Perfect Sambuddhas do not arise in the world.
SC 7The reasoners are not purified, nor are their disciples, of wrong view,
they are not released from suffering.”
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Đức Phật trú gần thành Xá-vệ, tại Kỳ-đà Lâm, tinh xá của ông Cấp Cô Độc.
Rồi Tôn giả A-nan đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ Ngài, rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, chừng nào các bậc Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác chưa xuất hiện trên đời, thì các ngoại đạo du sĩ được tôn trọng, kính ngưỡng, cúng dường, đảnh lễ và tán thán. Và họ nhận được y phục, vật thực, trú xứ, thuốc men và vật dụng cho người bệnh.
Nhưng khi các bậc Như Lai xuất hiện trên đời, thì các ngoại đạo du sĩ không còn được tôn trọng, kính ngưỡng, cúng dường, đảnh lễ và tán thán nữa. Và họ không nhận được y phục, vật thực, trú xứ, thuốc men và vật dụng cho người bệnh.
Bấy giờ, chỉ có Đức Phật được tôn trọng, kính ngưỡng, cúng dường, đảnh lễ và tán thán. Và Ngài nhận được y phục, vật thực, trú xứ, thuốc men và vật dụng cho người bệnh.”
“Đúng vậy, A-nan. Chừng nào các bậc Như Lai chưa xuất hiện trên đời, thì các ngoại đạo du sĩ được tôn trọng, kính ngưỡng, cúng dường, đảnh lễ và tán thán. Và họ nhận được y phục, vật thực, trú xứ, thuốc men và vật dụng cho người bệnh.
Nhưng khi các bậc Như Lai xuất hiện trên đời, thì các ngoại đạo du sĩ không còn được tôn trọng theo cách này nữa.
Bấy giờ, chỉ có bậc Như Lai được tôn trọng, kính ngưỡng, cúng dường, đảnh lễ và tán thán. Và Ngài nhận được y phục, vật thực, trú xứ, thuốc men và vật dụng cho người bệnh. Và Tăng-già khất sĩ cũng vậy.”
Rồi, thấu hiểu ý nghĩa này, nhân dịp ấy Đức Phật đã nói lên lời cảm hứng ngữ này:
“Đom đóm chiếu sáng chừng nào
Ánh sáng mặt trời chưa rạng.
Nhưng khi mặt trời đã mọc,
Ánh kia bị xóa, chẳng còn chiếu soi.
Cũng vậy, các biện luận sư rạng rỡ
Chừng nào chư Phật chưa hiện trên đời.
Các biện luận sư chẳng thanh tịnh, đệ tử họ cũng vậy.
Mang tà kiến, họ chẳng giải thoát khỏi khổ đau.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhante, tathāgatā loke nuppajjanti arahanto sammāsambuddhā tāva aññatitthiyā paribbājakā sakkatā honti garukatā mānitā pūjitā apacitā lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Yato ca kho, bhante, tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā atha aññatitthiyā paribbājakā asakkatā honti agarukatā amānitā apūjitā anapacitā na lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Bhagavāyeva dāni, bhante, sakkato hoti garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ, bhikkhusaṅgho cā”ti.
“Evametaṁ, ānanda, yāvakīvañca, ānanda, tathāgatā loke nuppajjanti arahanto sammāsambuddhā tāva aññatitthiyā paribbājakā sakkatā honti garukatā mānitā pūjitā apacitā lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Yato ca kho, ānanda, tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā atha aññatitthiyā paribbājakā asakkatā honti agarukatā amānitā apūjitā anapacitā na lābhino cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Tathāgatova dāni sakkato hoti garukato mānito pūjito apacito lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ, bhikkhusaṅgho cā”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Obhāsati tāva so kimi,
Yāva na unnamate pabhaṅkaro;
Sa verocanamhi uggate,
Hatappabho hoti na cāpi bhāsati.
Evaṁ obhāsitameva takkikānaṁ,
Yāva sammāsambuddhā loke nuppajjanti;
Na takkikā sujjhanti na cāpi sāvakā,
Duddiṭṭhī na dukkhā pamuccare”ti.
Dasamaṁ.
Tassuddānaṁ
Āyujaṭilavekkhaṇā,
tayo titthiyā subhūti;
Gaṇikā upāti navamo,
uppajjanti ca te dasāti.
Jaccandhavaggo chaṭṭho.