Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, Đức Phật đang giáo huấn, khuyến khích, tác động và truyền cảm hứng cho các tỳ-kheo bằng bài Pháp về Niết-bàn.
Và các tỳ-kheo ấy đang chú tâm, dụng tâm, tập trung toàn vẹn và lắng nghe tích cực.
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Này các tỳ-kheo, có cái không sinh, không có chỗ bị tạo tác, bị làm ra và bị điều kiện hóa.
Nếu không có cái không sinh, không có chỗ bị tạo tác, bị làm ra và bị điều kiện hóa, thì ở đây không tìm thấy sự thoát ly khỏi sinh, khỏi cái bị tạo tác, bị làm ra và bị điều kiện hóa.
Nhưng vì có cái không sinh, không có chỗ bị tạo tác, bị làm ra và bị điều kiện hóa, nên sự thoát ly được tìm thấy khỏi sinh, khỏi cái bị tạo tác, bị làm ra và bị điều kiện hóa.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena bhagavā bhikkhū nibbānapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti.
Tedha bhikkhū aṭṭhiṁ katvā, manasi katvā, sabbaṁ cetaso samannāharitvā, ohitasotā dhammaṁ suṇanti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Atthi, bhikkhave, ajātaṁ abhūtaṁ akataṁ asaṅkhataṁ.
No cetaṁ, bhikkhave, abhavissa ajātaṁ abhūtaṁ akataṁ asaṅkhataṁ, nayidha jātassa bhūtassa katassa saṅkhatassa nissaraṇaṁ paññāyetha.
Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi ajātaṁ abhūtaṁ akataṁ asaṅkhataṁ, tasmā jātassa bhūtassa katassa saṅkhatassa nissaraṇaṁ paññāyatī”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Sāvatthī, in Jeta’s Wood, at Anāthapiṇḍika’s monastery. Then at that time the Gracious One was instructing, rousing, enthusing, and cheering the monks with a Dhamma talk connected with Emancipation. Those monks, after making it their goal, applying their minds, considering it with all their mind, were listening to Dhamma with an attentive ear.
SC 2Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 3“There is, monks, an unborn, unbecome, unmade, unconditioned. If, monks there were not that unborn, unbecome, unmade, unconditioned, you could not know an escape here from the born, become, made, and conditioned. But because there is an unborn, unbecome, unmade, unconditioned, therefore you do know an escape from the born, become, made, and conditioned.”
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, Đức Phật đang giáo huấn, khuyến khích, tác động và truyền cảm hứng cho các tỳ-kheo bằng bài Pháp về Niết-bàn.
Và các tỳ-kheo ấy đang chú tâm, dụng tâm, tập trung toàn vẹn và lắng nghe tích cực.
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Này các tỳ-kheo, có cái không sinh, không có chỗ bị tạo tác, bị làm ra và bị điều kiện hóa.
Nếu không có cái không sinh, không có chỗ bị tạo tác, bị làm ra và bị điều kiện hóa, thì ở đây không tìm thấy sự thoát ly khỏi sinh, khỏi cái bị tạo tác, bị làm ra và bị điều kiện hóa.
Nhưng vì có cái không sinh, không có chỗ bị tạo tác, bị làm ra và bị điều kiện hóa, nên sự thoát ly được tìm thấy khỏi sinh, khỏi cái bị tạo tác, bị làm ra và bị điều kiện hóa.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena bhagavā bhikkhū nibbānapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti.
Tedha bhikkhū aṭṭhiṁ katvā, manasi katvā, sabbaṁ cetaso samannāharitvā, ohitasotā dhammaṁ suṇanti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Atthi, bhikkhave, ajātaṁ abhūtaṁ akataṁ asaṅkhataṁ.
No cetaṁ, bhikkhave, abhavissa ajātaṁ abhūtaṁ akataṁ asaṅkhataṁ, nayidha jātassa bhūtassa katassa saṅkhatassa nissaraṇaṁ paññāyetha.
Yasmā ca kho, bhikkhave, atthi ajātaṁ abhūtaṁ akataṁ asaṅkhataṁ, tasmā jātassa bhūtassa katassa saṅkhatassa nissaraṇaṁ paññāyatī”ti.
Tatiyaṁ.