Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Đức Phật trú gần Gayā, trên đỉnh Gayā.
Bấy giờ—trong đợt giá lạnh, khi tuyết rơi vào mùa đông tháng Giêng—nhiều vị khổ hạnh bện tóc lặn ngụp trong sông Gayā. Vừa lặn ngụp, tắm gội, họ vừa phụng sự ngọn lửa thiêng, nghĩ rằng:
“Nhờ điều này mà có sự thanh tịnh.”
Đức Phật thấy họ lặn ngụp như vậy.
Rồi, thấu hiểu sự việc này, nhân dịp đó, Đức Phật đã nói lên lời cảm hứng này:
“Sự thanh tịnh không đến từ nước,
dù có bao nhiêu người tắm ở đó.
Người nào có chân lý và đạo lý,
họ là người thanh tịnh, họ là Bà-la-môn.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā gayāyaṁ viharati gayāsīse.
Tena kho pana samayena sambahulā jaṭilā sītāsu hemantikāsu rattīsu antaraṭṭhake himapātasamaye gayāyaṁ ummujjantipi nimujjantipi, ummujjanimujjampi karonti osiñcantipi, aggimpi juhanti:
“iminā suddhī”ti.
Addasā kho bhagavā te sambahule jaṭile sītāsu hemantikāsu rattīsu antaraṭṭhake himapātasamaye gayāyaṁ ummujjantepi nimujjantepi ummujjanimujjampi karonte osiñcantepi aggimpi juhante:
“iminā suddhī”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Na udakena sucī hoti,
bahvettha nhāyatī jano;
Yamhi saccañca dhammo ca,
so sucī so ca brāhmaṇo”ti.
Navamaṁ.
SC 1Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Gayā, on Gayā Peak. Then at that time many knotted-haired ascetics, in the cold Winter nights, in between ‘the eights’, at the time of the snowfall, in the Gayā river, were plunging out, and plunging in, were plunging out and in, were sprinkling water, and were offering the fire sacrifice, thinking: “Through this there is purity.”
SC 2The Gracious One saw that those many knotted-haired ascetics, in the Winter nights, in between ‘the eights’, at the time of the snowfall, in the Gayā river, were plunging out and plunging in, were plunging out and in, were sprinkling water, and were offering the fire sacrifice, thinking: “Through this there is purity.”
SC 3Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 4“Not through water is there purity—many people bathe here!
In whom there is truth and Dhamma, he is pure, and he is a brāhmaṇa.”
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Đức Phật trú gần Gayā, trên đỉnh Gayā.
Bấy giờ—trong đợt giá lạnh, khi tuyết rơi vào mùa đông tháng Giêng—nhiều vị khổ hạnh bện tóc lặn ngụp trong sông Gayā. Vừa lặn ngụp, tắm gội, họ vừa phụng sự ngọn lửa thiêng, nghĩ rằng:
“Nhờ điều này mà có sự thanh tịnh.”
Đức Phật thấy họ lặn ngụp như vậy.
Rồi, thấu hiểu sự việc này, nhân dịp đó, Đức Phật đã nói lên lời cảm hứng này:
“Sự thanh tịnh không đến từ nước,
dù có bao nhiêu người tắm ở đó.
Người nào có chân lý và đạo lý,
họ là người thanh tịnh, họ là Bà-la-môn.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā gayāyaṁ viharati gayāsīse.
Tena kho pana samayena sambahulā jaṭilā sītāsu hemantikāsu rattīsu antaraṭṭhake himapātasamaye gayāyaṁ ummujjantipi nimujjantipi, ummujjanimujjampi karonti osiñcantipi, aggimpi juhanti:
“iminā suddhī”ti.
Addasā kho bhagavā te sambahule jaṭile sītāsu hemantikāsu rattīsu antaraṭṭhake himapātasamaye gayāyaṁ ummujjantepi nimujjantepi ummujjanimujjampi karonte osiñcantepi aggimpi juhante:
“iminā suddhī”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Na udakena sucī hoti,
bahvettha nhāyatī jano;
Yamhi saccañca dhammo ca,
so sucī so ca brāhmaṇo”ti.
Navamaṁ.