Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, phần lớn cư dân Sāvatthī quá chấp thủ vào dục lạc. Đầy tham dục, tham lam, bị trói buộc, mê muội, họ sống hoàn toàn đắm chìm trong dục lạc.
Rồi vào buổi sáng, một số tỳ-kheo đắp y, cầm bát và y, đi vào Sāvatthī khất thực.
Rồi sau bữa ăn, khi trở về từ khất thực, họ đi đến Đức Phật, đảnh lễ, ngồi qua một bên, và trình bày sự việc.
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Chấp thủ vào dục lạc, vào xiềng xích các căn,
mù quáng trước lỗi lầm của kiết sử,
chấp thủ vào xiềng xích kiết sử,
họ không bao giờ vượt qua được cơn đại hồng thủy.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena sāvatthiyā manussā yebhuyyena kāmesu ativelaṁ sattā (…) rattā giddhā gathitā mucchitā ajjhosannā sammattakajātā kāmesu viharanti.
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiyaṁ piṇḍāya pāvisiṁsu.
Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, sāvatthiyā manussā yebhuyyena kāmesu ativelaṁ sattā rattā giddhā gathitā mucchitā ajjhosannā sammattakajātā kāmesu viharantī”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Kāmesu sattā kāmasaṅgasattā,
Saṁyojane vajjamapassamānā;
Na hi jātu saṁyojanasaṅgasattā,
Oghaṁ tareyyuṁ vipulaṁ mahantan”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Sāvatthī, in Jeta’s Wood, at Anāthapiṇḍika’s monastery. Then at that time almost all the people in Sāvatthī clung exceedingly to sense pleasures, delighted, greedy, tied, infatuated, and indulgent, they dwelt having become completely intoxicated with sense pleasures.
SC 2Then many monks, having dressed in the morning time, after picking up their bowl and robe, entered Sāvatthī for alms, and after walking for alms in Sāvatthī, while returning from the alms-round after the meal, went to the Gracious One, and after going and worshipping the Gracious One, they sat down on one side. While sat on one side those monks said this to the Gracious One: “Here, reverend Sir, almost all the people in Sāvatthī cling exceedingly to sense pleasures, delighted, greedy, tied, infatuated, and indulgent, they dwell having become completely intoxicated with sense pleasures.”
SC 3Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 4“Clinging to sense pleasures, clinging to the shackle of sense pleasures,
Not seeing the fault in the fetters,
For sure those clinging to the shackle of the fetters
Cannot cross over the wide and great flood.”
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, phần lớn cư dân Sāvatthī quá chấp thủ vào dục lạc. Đầy tham dục, tham lam, bị trói buộc, mê muội, họ sống hoàn toàn đắm chìm trong dục lạc.
Rồi vào buổi sáng, một số tỳ-kheo đắp y, cầm bát và y, đi vào Sāvatthī khất thực.
Rồi sau bữa ăn, khi trở về từ khất thực, họ đi đến Đức Phật, đảnh lễ, ngồi qua một bên, và trình bày sự việc.
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Chấp thủ vào dục lạc, vào xiềng xích các căn,
mù quáng trước lỗi lầm của kiết sử,
chấp thủ vào xiềng xích kiết sử,
họ không bao giờ vượt qua được cơn đại hồng thủy.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena sāvatthiyā manussā yebhuyyena kāmesu ativelaṁ sattā (…) rattā giddhā gathitā mucchitā ajjhosannā sammattakajātā kāmesu viharanti.
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiyaṁ piṇḍāya pāvisiṁsu.
Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, sāvatthiyā manussā yebhuyyena kāmesu ativelaṁ sattā rattā giddhā gathitā mucchitā ajjhosannā sammattakajātā kāmesu viharantī”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Kāmesu sattā kāmasaṅgasattā,
Saṁyojane vajjamapassamānā;
Na hi jātu saṁyojanasaṅgasattā,
Oghaṁ tareyyuṁ vipulaṁ mahantan”ti.
Tatiyaṁ.