Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, giữa Sāvatthī và Kỳ Viên, một nhóm trẻ con đang hành hạ mấy con cá.
Rồi vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, cầm bát và y, đi vào Sāvatthī khất thực.
Ngài thấy những đứa trẻ đang hành hạ cá.
Ngài đi đến chúng và nói:
“Này các con, các con có sợ khổ đau không? Các con có ghét khổ đau không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” chúng đáp. “Chúng con ghét khổ đau.”
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Nếu các con sợ khổ đau,
nếu các con ghét khổ đau,
thì chớ làm điều ác
dù công khai hay bí mật.
Nếu đã hay sẽ làm điều ác,
bây giờ hay mai sau,
sẽ không thoát khỏi khổ đau,
dù có bay đi và chạy trốn.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena sambahulā kumārakā antarā ca sāvatthiṁ antarā ca jetavanaṁ macchake bādhenti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
Addasā kho bhagavā te sambahule kumārake antarā ca sāvatthiṁ antarā ca jetavanaṁ macchake bādhente.
Disvāna yena te kumārakā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te kumārake etadavoca:
“bhāyatha vo, tumhe kumārakā, dukkhassa, appiyaṁ vo dukkhan”ti?
“Evaṁ, bhante, bhāyāma mayaṁ, bhante, dukkhassa, appiyaṁ no dukkhan”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Sace bhāyatha dukkhassa,
sace vo dukkhamappiyaṁ;
Mākattha pāpakaṁ kammaṁ,
āvi vā yadi vā raho.
Sace ca pāpakaṁ kammaṁ,
karissatha karotha vā;
Na vo dukkhā pamutyatthi,
upeccapi palāyatan”ti.
Catutthaṁ.
SC 1Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Sāvatthī, in Jeta’s Wood, at Anāthapiṇḍika’s monastery. Then at that time many young boys who were between Sāvatthī and Jeta’s Wood were catching little fish.
SC 2Then the Gracious One, having dressed in the morning time, after picking up his bowl and robe, was entering Sāvatthī for alms. The Gracious One saw those many young boys who were between Sāvatthī and Jeta’s Wood catching fish. Having seen that, he went to those young boys, and after going, he said this to those young boys: “Are you afraid, boys, of suffering? Is suffering unpleasant to you?”
SC 3“Yes, reverend Sir, we are afraid of suffering, suffering is unpleasant to us.”
SC 4Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 5“If you have fear of suffering, if suffering is unpleasant to you,
Don’t do any bad deeds, whether in the open or in secret.
SC 6“But if you will do, or now do do bad deeds,
For you there is no freedom from suffering, even after going, while running away.”
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, giữa Sāvatthī và Kỳ Viên, một nhóm trẻ con đang hành hạ mấy con cá.
Rồi vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, cầm bát và y, đi vào Sāvatthī khất thực.
Ngài thấy những đứa trẻ đang hành hạ cá.
Ngài đi đến chúng và nói:
“Này các con, các con có sợ khổ đau không? Các con có ghét khổ đau không?”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” chúng đáp. “Chúng con ghét khổ đau.”
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Nếu các con sợ khổ đau,
nếu các con ghét khổ đau,
thì chớ làm điều ác
dù công khai hay bí mật.
Nếu đã hay sẽ làm điều ác,
bây giờ hay mai sau,
sẽ không thoát khỏi khổ đau,
dù có bay đi và chạy trốn.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena sambahulā kumārakā antarā ca sāvatthiṁ antarā ca jetavanaṁ macchake bādhenti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
Addasā kho bhagavā te sambahule kumārake antarā ca sāvatthiṁ antarā ca jetavanaṁ macchake bādhente.
Disvāna yena te kumārakā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te kumārake etadavoca:
“bhāyatha vo, tumhe kumārakā, dukkhassa, appiyaṁ vo dukkhan”ti?
“Evaṁ, bhante, bhāyāma mayaṁ, bhante, dukkhassa, appiyaṁ no dukkhan”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Sace bhāyatha dukkhassa,
sace vo dukkhamappiyaṁ;
Mākattha pāpakaṁ kammaṁ,
āvi vā yadi vā raho.
Sace ca pāpakaṁ kammaṁ,
karissatha karotha vā;
Na vo dukkhā pamutyatthi,
upeccapi palāyatan”ti.
Catutthaṁ.