Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, phần lớn cư dân Sāvatthī chấp thủ vào dục lạc. Đầy tham dục, tham lam, bị trói buộc, mê muội, dính mắc và mù quáng, họ sống hoàn toàn đắm chìm trong dục lạc.
Rồi vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, cầm bát và y, đi vào Sāvatthī khất thực.
Ngài thấy con người chấp thủ như vậy.
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Bị dục lạc làm mù quáng, bị lưới giăng,
bị ái dục che phủ;
bị trói buộc bởi thân quyến của phóng dật,
như cá mắc lưới hình phễu.
Họ chạy theo lão tử,
như bê con chạy theo bò mẹ.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena sāvatthiyā manussā yebhuyyena kāmesu sattā (…) rattā giddhā gathitā mucchitā ajjhosannā andhīkatā sammattakajātā kāmesu viharanti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
Addasā kho bhagavā sāvatthiyā te manusse yebhuyyena kāmesu satte ratte giddhe gathite mucchite ajjhopanne andhīkate sammattakajāte kāmesu viharante.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Kāmandhā jālasañchannā,
Taṇhāchadanachāditā;
Pamattabandhunā baddhā,
Macchāva kumināmukhe;
Jarāmaraṇamanventi,
Vaccho khīrapakova mātaran”ti.
Catutthaṁ.
SC 1Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Sāvatthī, in Jeta’s Wood, at Anāthapiṇḍika’s monastery. Then at that time almost all the people in Sāvatthī clung to sense pleasures, delighted, greedy, tied, infatuated, indulgent and blinded, they dwelt having become completely intoxicated with sense pleasures.
SC 2Then the Gracious One, having dressed in the morning time, after picking up his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. The Gracious One saw that almost all the people in Sāvatthī clung to sense pleasures, delighted, greedy, tied, infatuated, indulgent and blinded, and dwelt having become completely intoxicated with sense pleasures. Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 3“Blinded by sense pleasure, covered with a net,
covered over with the covering of craving,
Bound by Māra the heedless one’s kin, like fish in the mouth of a trap,
They go to old age and death, like a suckling calf to its mother.”
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ, phần lớn cư dân Sāvatthī chấp thủ vào dục lạc. Đầy tham dục, tham lam, bị trói buộc, mê muội, dính mắc và mù quáng, họ sống hoàn toàn đắm chìm trong dục lạc.
Rồi vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, cầm bát và y, đi vào Sāvatthī khất thực.
Ngài thấy con người chấp thủ như vậy.
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Bị dục lạc làm mù quáng, bị lưới giăng,
bị ái dục che phủ;
bị trói buộc bởi thân quyến của phóng dật,
như cá mắc lưới hình phễu.
Họ chạy theo lão tử,
như bê con chạy theo bò mẹ.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena sāvatthiyā manussā yebhuyyena kāmesu sattā (…) rattā giddhā gathitā mucchitā ajjhosannā andhīkatā sammattakajātā kāmesu viharanti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
Addasā kho bhagavā sāvatthiyā te manusse yebhuyyena kāmesu satte ratte giddhe gathite mucchite ajjhopanne andhīkate sammattakajāte kāmesu viharante.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Kāmandhā jālasañchannā,
Taṇhāchadanachāditā;
Pamattabandhunā baddhā,
Macchāva kumināmukhe;
Jarāmaraṇamanventi,
Vaccho khīrapakova mātaran”ti.
Catutthaṁ.