Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú gần Vương Xá, trong Trúc Lâm, nơi nuôi sóc.
Lúc bấy giờ Tôn giả Mahākassapa trú trong hang Pipphali, và ngài bị bệnh nặng, đau khổ, trọng bệnh.
Rồi sau một thời gian, ngài bình phục.
Ngài nghĩ:
“Sao ta không vào Vương Xá khất thực?”
Lúc bấy giờ năm trăm thiên nhân đang sẵn lòng và háo hức chờ cơ hội cúng dường Tôn giả Mahākassapa.
Nhưng Tôn giả Mahākassapa từ chối các thiên nhân ấy. Vào buổi sáng, ngài đắp y, cầm bát và y, đi vào Vương Xá khất thực.
Ngài đi đến các con đường của người nghèo, người cùng khổ, và người thêu thùa.
Đức Phật thấy ngài đang đi khất thực nơi các con đường của người nghèo, cùng khổ và thêu thùa.
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Bậc ẩn sĩ, không nuôi dưỡng ai khác,
đã thuần phục, kiên cố trong cốt lõi,
lậu hoặc đã tận, lỗi lầm đã trừ:
bậc ấy Ta tuyên bố là bà-la-môn.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā mahākassapo pippaliguhāyaṁ viharati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho āyasmā mahākassapo aparena samayena tamhā ābādhā vuṭṭhāsi.
Atha kho āyasmato mahākassapassa tamhā ābādhā vuṭṭhitassa etadahosi:
“yannūnāhaṁ rājagahaṁ piṇḍāya paviseyyan”ti.
Tena kho pana samayena pañcamattāni devatāsatāni ussukkaṁ āpannāni honti āyasmato mahākassapassa piṇḍapātapaṭilābhāya.
Atha kho āyasmā mahākassapo tāni pañcamattāni devatāsatāni paṭikkhipitvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi—
yena daliddavisikhā kapaṇavisikhā pesakāravisikhā.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ mahākassapaṁ rājagahe piṇḍāya carantaṁ yena daliddavisikhā kapaṇavisikhā pesakāravisikhā.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Anaññaposimaññātaṁ,
dantaṁ sāre patiṭṭhitaṁ;
Khīṇāsavaṁ vantadosaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇan”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1Thus I heard: At one time the Gracious One was dwelling near Rājagaha, in Bamboo Wood, at the Squirrels’ Feeding Place. Then at that time venerable Mahākassapa was dwelling in the Pepper Cave, and was afflicted, suffering, and very sick.
SC 2Then venerable Mahākassapa at another time arose from that affliction. Then this occured to venerable Mahākassapa when he arose from that affliction: “Well now, I should enter Rājagaha for alms.”
SC 3Then at that time five hundred devatās were ready and eager to offer almsfood to venerable Mahākassapa. But venerable Mahākassapa, after refusing those five hundred devatās, having dressed in the morning time, after picking up his bowl and robe, entered Rājagaha for alms, going to the poor streets, to the wretched streets, to the weaver’s streets.
SC 4The Gracious One saw venerable Mahākassapa walking for alms in Rājagaha, going to the poor streets, to the wretched streets, to the weaver’s streets. Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 5“Not nourishing another, well-known, controlled, established in the essential,
With pollutants destroyed, rid of faults: him I call a brāhmaṇa.”
Tôi đã được nghe như vầy.
Một thuở, Đức Phật trú gần Vương Xá, trong Trúc Lâm, nơi nuôi sóc.
Lúc bấy giờ Tôn giả Mahākassapa trú trong hang Pipphali, và ngài bị bệnh nặng, đau khổ, trọng bệnh.
Rồi sau một thời gian, ngài bình phục.
Ngài nghĩ:
“Sao ta không vào Vương Xá khất thực?”
Lúc bấy giờ năm trăm thiên nhân đang sẵn lòng và háo hức chờ cơ hội cúng dường Tôn giả Mahākassapa.
Nhưng Tôn giả Mahākassapa từ chối các thiên nhân ấy. Vào buổi sáng, ngài đắp y, cầm bát và y, đi vào Vương Xá khất thực.
Ngài đi đến các con đường của người nghèo, người cùng khổ, và người thêu thùa.
Đức Phật thấy ngài đang đi khất thực nơi các con đường của người nghèo, cùng khổ và thêu thùa.
Rồi hiểu rõ sự việc này, nhân dịp ấy Đức Phật thốt lên lời cảm hứng:
“Bậc ẩn sĩ, không nuôi dưỡng ai khác,
đã thuần phục, kiên cố trong cốt lõi,
lậu hoặc đã tận, lỗi lầm đã trừ:
bậc ấy Ta tuyên bố là bà-la-môn.”
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā mahākassapo pippaliguhāyaṁ viharati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho āyasmā mahākassapo aparena samayena tamhā ābādhā vuṭṭhāsi.
Atha kho āyasmato mahākassapassa tamhā ābādhā vuṭṭhitassa etadahosi:
“yannūnāhaṁ rājagahaṁ piṇḍāya paviseyyan”ti.
Tena kho pana samayena pañcamattāni devatāsatāni ussukkaṁ āpannāni honti āyasmato mahākassapassa piṇḍapātapaṭilābhāya.
Atha kho āyasmā mahākassapo tāni pañcamattāni devatāsatāni paṭikkhipitvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi—
yena daliddavisikhā kapaṇavisikhā pesakāravisikhā.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ mahākassapaṁ rājagahe piṇḍāya carantaṁ yena daliddavisikhā kapaṇavisikhā pesakāravisikhā.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Anaññaposimaññātaṁ,
dantaṁ sāre patiṭṭhitaṁ;
Khīṇāsavaṁ vantadosaṁ,
tamahaṁ brūmi brāhmaṇan”ti.
Chaṭṭhaṁ.