Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
SC 1Như vầy tôi nghe, một thời Đức Phật trú tại Xá-vệ, trong Kỳ-đà Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
SC 2Bấy giờ, vào buổi sáng sớm, Thế Tôn đắp y, cầm bát, vào thành khất thực. Sau khi thọ thực xong, rửa chân, xếp tọa cụ, Ngài đi đến rừng Andhavana để thiền định. Sau khi tìm một chỗ thích hợp, Ngài ngồi kiết-già dưới một gốc cây ở nơi thanh vắng, để an trú trong ngày.
SC 3Bấy giờ, tại Kỳ-đà Tinh xá, có hai Tỳ-kheo tranh cãi trong một buổi họp. Một vị giữ im lặng, vị kia trở nên sân hận và phẫn nộ. Khi vị T��-kheo phẫn nộ nhận ra mình đã phạm lỗi, liền đến vị Tỳ-kheo giữ im lặng, muốn sám hối. Tuy nhiên, vị Tỳ-kheo giữ im lặng đã không chấp nhận lời sám hối. Khi sự việc này xảy ra, một cuộc tranh luận ồn ào đã nổ ra giữa tất cả các Tỳ-kheo. Bấy giờ, Đức Như Lai đang an trú trong thiền định, và nghe rõ tiếng ồn ào đó bằng thiên nhĩ, vượt xa thính giác của con người và có thể nghe được âm thanh từ xa. Ngài rời chỗ ngồi, đi đến chỗ các Tỳ-kheo, và ngồi xuống chỗ đã được chuẩn bị trước mặt họ.
SC 4Đức Phật nói với các Tỳ-kheo: “Sáng nay Ta đắp y, cầm bát, vào thành khất thực. (… và cứ thế …) vào rừng, và khi đang ngồi yên lặng, Ta nghe các Tỳ-kheo la hét và ồn ào. Có chuyện gì vậy?”
SC 5Bấy giờ các Tỳ-kheo bạch Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, tại Kỳ-đà Tinh xá có hai Tỳ-kheo tranh cãi trong một buổi họp. Một Tỳ-kheo giữ im lặng, Tỳ-kheo kia trở nên phẫn nộ và nói rất nhiều. Vị Tỳ-kheo phẫn nộ biết mình đã phạm lỗi và đến để thành thật sám hối. Vị Tỳ-kheo giữ im lặng đã không chấp nhận lời sám hối của vị kia, n��n sự việc trở thành vấn đề công khai và mọi người bắt đầu la hét.”
SC 6Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Tại sao lại ngu si như vậy mà không chấp nhận lời sám hối của người khác? Này các Tỳ-kheo, hãy biết rằng vào thời xa xưa, Đế Thích Thiên Chủ, khi ở trong Pháp đường Thiện Pháp giữa các chư thiên, đã nói lên bài kệ này:
SC 7“Như lấy một bình làm từ quả bầu /
đổ bơ vào dùng làm đèn;
ngọn lửa cháy, tiêu thụ /
sẽ đốt cháy cả quả bầu.
SC 8Tâm sân hận cũng vậy; /
nó tự quay lại và đốt cháy căn lành của mình.
Chúng ta không nên nuôi dưỡng sự bực tức. /
Khi đã tìm thấy sân hận, hãy xua tan nó.
SC 9Đừng bị cuốn vào như một xoáy nước, /
xoay vòng không dứt.
Và ngay cả khi có sân hận, hãy kiêng lời nói thô ác, /
không chạm vào những chủ đề mà người khác muốn tránh.
SC 10Sâu sắc tôn trọng ý muốn tránh những chủ đề đó của người khác, /
chúng ta sẽ không bao gi��� làm hại họ.
Tự kiểm soát bản thân /
là lợi ích lớn lao cho chính mình.
SC 11Những ai không sân hận, không bạo lực, /
đó là những bậc Thánh.
Họ là đệ tử của các bậc Thánh; /
những người đó nên luôn kết bạn.
SC 12Những ai có sân hận và thù ghét /
đối mặt với chướng ngại nặng như núi.
Nhưng nếu, khi có sân hận và thù ghét, /
người ta có thể tự kiểm soát dù chỉ một chút,
thì điều này được gọi là thiện nghiệp /
như việc chế ngự một con ngựa bất kham.’”
SC 13Đức Phật nói với các Tỳ-kheo: “Đế Thích Thiên Chủ cai trị các chư thiên. An lạc giữa họ, dù quyền năng nhưng Ngài vẫn có thể thực hành nhẫn nhục và tán thán những người có nhẫn nhục. Làm sao các con, những Tỳ-kheo đã xuất gia, với hình tướng cạo bỏ râu tóc, lại không thể nhẫn nhục và tán thán nhẫn nhục?”
SC 14Khi Đức Phật nói xong, các Tỳ-kheo, sau khi nghe những gì Ngài đã nói, hoan hỷ và ghi nhớ kỹ. 如是我聞:
一時,佛在舍衛國祇樹給孤T 0385b05獨園。爾時,世尊晨朝時到,著衣持鉢,入城乞T 0385b06食。食已,洗足,攝坐具,詣得眼林中,遍觀察已,T 0385b07於閑靜處,在樹下,結加趺坐,住於天住。爾T 0385b08時,耆陀精舍中,有二比丘於僧斷事時,共生T 0385b09忿諍,一小默然忍,一瞋熾盛。彼熾盛者,自見T 0385b10己過,而來歸向默忍比丘,求欲懺悔。默忍比T 0385b11丘,不受其懺。如是展轉,諸比丘等共相論T 0385b12說,出大音聲。
如來爾時住於天住,以淨天耳T 0385b13過於人耳,遙聞是聲,即從坐起,至於僧中,T 0385b14在於僧前,敷座而坐。佛告諸比丘:「我於今朝T 0385b15著衣持鉢,入城乞食,乃至來入林中靜坐,聞T 0385b16諸比丘高聲大喚,為作何事?」
爾時,比丘即白T 0385b17佛言:「世尊!耆陀精舍有二比丘僧斷事時,共T 0385b18生忿諍。一比丘者,小自默忍;其一比丘,熾盛T 0385b19多語。熾盛比丘,自知己過,歸誠懺悔,默忍比T 0385b20丘,不受其懺。展轉共道,出大音聲。」
佛告比T 0385b21丘:「云何愚癡,不受他懺?諸比丘!當知昔日T 0385b22釋提桓因在善法堂諸天眾中,而說偈言:
T 0385b23
「『譬如用瓢器, 斟酥以益燈,T 0385b24
火然轉熾盛, 反更燒瓢器。T 0385b25
瞋心亦如是, 還自燒善根,T 0385b26
我終不含怒, 瞋已尋復散。T 0385b27
不如水漩流, 迴復無窮已,T 0385b28
雖瞋不惡口, 不觸汝所諱。T 0385b29
所諱如要脈, 我終不傷害,T 0385c01
調伏於身已, 於己即有利。T 0385c02
無瞋無害者, 彼即是賢聖,T 0385c03
亦賢聖弟子, 常應親近之。T 0385c04
諸有瞋恚者, 重障猶如山。T 0385c05
若有瞋恚時, 能少禁制者,T 0385c06
是名為善業, 如轡制惡馬。』」
T 0385c07佛告諸比丘:「釋提桓因處天王位,天中自在,T 0385c08尚能修忍,讚嘆忍者,況汝比丘,出家毀形,而T 0385c09當不忍讚嘆於忍?」
佛說是已,諸比丘聞佛所T 0385c10說,歡喜奉行。
T 0385c11 SC 1Thus have I heard, once, the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Park.
SC 2At that time, early one morning, the World-honored One took his robes and his begging bowl and entered the town to beg for food. Having eaten he washed his feet, gathered his seat for meditation and went to the Andhavana forest to meditate. Having looked around for a good spot, he sat down cross-legged beneath a tree in a secluded place, for the day’s abiding.
SC 3At that time in the Jeta Vihāra there were two monks who got into an argument during a meeting. One endured in silence, the other became angry and irate. When the one who had become irate saw that he had transgressed, he went to the monk who had stayed silent, wishing to confess. However, the monk who had endured in silence did not accept the confession. When this transpired, there ensued a noisy discussion among all the monks. The Tathāgata was at that time abiding in meditation, and heard the clamor clearly with his deva-like hearing, which surpasses human hearing and can discern sounds from far away. He rose from his seat, went to the monks, and sat on the seat prepared in front of them.
SC 4The Buddha said to the monks: “This morning I took my robes and begging bowl and entered the town to beg for food. ( … and so on … ) went into the forest, and sitting silently, I heard monks shouting and clamoring. What is the matter?”
SC 5Then the monks told the Buddha: “World-honored One, in the Jeta Vihāra there are two monks who got into an argument during a meeting. One monk endured in silence, the other monk became irate and said a lot. The irate monk knew that he had transgressed and went to offer an honest confession. The monk that had endured silently did not accept the other’s confession, so it became a public issue and everybody started shouting.”
SC 6The Buddha told the monks: “Why be so stupid and not accept someone’s confession? Monks, know that in ancient days Sakka Devānaṁ Inda, while in the Sudhamma Hall among the gods spoke this verse:
SC 7“It is like taking a vessel made from a gourd /
and filling it with butter to use as a lamp;
the flame burning, consuming /
will burn up the gourd as well.
SC 8The angry mind is like this; /
it turns on itself and burns one’s wholesome roots.
We should never harbor annoyance. /
Having sought out anger, disperse it.
SC 9Don’t be drawn in as if in a maelstrom, /
endlessly circling around.
And even if there is anger, abstain from harsh speech, /
not touching on topics that others wish to avoid.
SC 10Deeply respecting others’ wish to avoid such topics, /
we will never harm them.
Taking control of oneself /
is of great advantage to oneself.
SC 11Those without anger, without violence, /
those are noble ones.
They are disciples of noble ones; /
those one should always befriend.
SC 12Those with anger and hatred /
face an obstacle heavy as a mountain
But if, when there is anger and hatred, /
one can control oneself even a little,
then this is called good karma /
like the taming of an unruly horse.’”
SC 13The Buddha said to the monks: “Sakka Devānaṁ Inda reigns over the gods. At ease among them, though powerful he can practice patience and praise those with patience. How could you, monks, who have gone forth, disfigured by shaving off your hair, not be patient and praise patience?”
SC 14When the Buddha had finished, the monks, having listened to what he had said, were happy and remembered it well.
SC 1Như vầy tôi nghe, một thời Đức Phật trú tại Xá-vệ, trong Kỳ-đà Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
SC 2Bấy giờ, vào buổi sáng sớm, Thế Tôn đắp y, cầm bát, vào thành khất thực. Sau khi thọ thực xong, rửa chân, xếp tọa cụ, Ngài đi đến rừng Andhavana để thiền định. Sau khi tìm một chỗ thích hợp, Ngài ngồi kiết-già dưới một gốc cây ở nơi thanh vắng, để an trú trong ngày.
SC 3Bấy giờ, tại Kỳ-đà Tinh xá, có hai Tỳ-kheo tranh cãi trong một buổi họp. Một vị giữ im lặng, vị kia trở nên sân hận và phẫn nộ. Khi vị T��-kheo phẫn nộ nhận ra mình đã phạm lỗi, liền đến vị Tỳ-kheo giữ im lặng, muốn sám hối. Tuy nhiên, vị Tỳ-kheo giữ im lặng đã không chấp nhận lời sám hối. Khi sự việc này xảy ra, một cuộc tranh luận ồn ào đã nổ ra giữa tất cả các Tỳ-kheo. Bấy giờ, Đức Như Lai đang an trú trong thiền định, và nghe rõ tiếng ồn ào đó bằng thiên nhĩ, vượt xa thính giác của con người và có thể nghe được âm thanh từ xa. Ngài rời chỗ ngồi, đi đến chỗ các Tỳ-kheo, và ngồi xuống chỗ đã được chuẩn bị trước mặt họ.
SC 4Đức Phật nói với các Tỳ-kheo: “Sáng nay Ta đắp y, cầm bát, vào thành khất thực. (… và cứ thế …) vào rừng, và khi đang ngồi yên lặng, Ta nghe các Tỳ-kheo la hét và ồn ào. Có chuyện gì vậy?”
SC 5Bấy giờ các Tỳ-kheo bạch Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, tại Kỳ-đà Tinh xá có hai Tỳ-kheo tranh cãi trong một buổi họp. Một Tỳ-kheo giữ im lặng, Tỳ-kheo kia trở nên phẫn nộ và nói rất nhiều. Vị Tỳ-kheo phẫn nộ biết mình đã phạm lỗi và đến để thành thật sám hối. Vị Tỳ-kheo giữ im lặng đã không chấp nhận lời sám hối của vị kia, n��n sự việc trở thành vấn đề công khai và mọi người bắt đầu la hét.”
SC 6Đức Phật bảo các Tỳ-kheo: “Tại sao lại ngu si như vậy mà không chấp nhận lời sám hối của người khác? Này các Tỳ-kheo, hãy biết rằng vào thời xa xưa, Đế Thích Thiên Chủ, khi ở trong Pháp đường Thiện Pháp giữa các chư thiên, đã nói lên bài kệ này:
SC 7“Như lấy một bình làm từ quả bầu /
đổ bơ vào dùng làm đèn;
ngọn lửa cháy, tiêu thụ /
sẽ đốt cháy cả quả bầu.
SC 8Tâm sân hận cũng vậy; /
nó tự quay lại và đốt cháy căn lành của mình.
Chúng ta không nên nuôi dưỡng sự bực tức. /
Khi đã tìm thấy sân hận, hãy xua tan nó.
SC 9Đừng bị cuốn vào như một xoáy nước, /
xoay vòng không dứt.
Và ngay cả khi có sân hận, hãy kiêng lời nói thô ác, /
không chạm vào những chủ đề mà người khác muốn tránh.
SC 10Sâu sắc tôn trọng ý muốn tránh những chủ đề đó của người khác, /
chúng ta sẽ không bao gi��� làm hại họ.
Tự kiểm soát bản thân /
là lợi ích lớn lao cho chính mình.
SC 11Những ai không sân hận, không bạo lực, /
đó là những bậc Thánh.
Họ là đệ tử của các bậc Thánh; /
những người đó nên luôn kết bạn.
SC 12Những ai có sân hận và thù ghét /
đối mặt với chướng ngại nặng như núi.
Nhưng nếu, khi có sân hận và thù ghét, /
người ta có thể tự kiểm soát dù chỉ một chút,
thì điều này được gọi là thiện nghiệp /
như việc chế ngự một con ngựa bất kham.’”
SC 13Đức Phật nói với các Tỳ-kheo: “Đế Thích Thiên Chủ cai trị các chư thiên. An lạc giữa họ, dù quyền năng nhưng Ngài vẫn có thể thực hành nhẫn nhục và tán thán những người có nhẫn nhục. Làm sao các con, những Tỳ-kheo đã xuất gia, với hình tướng cạo bỏ râu tóc, lại không thể nhẫn nhục và tán thán nhẫn nhục?”
SC 14Khi Đức Phật nói xong, các Tỳ-kheo, sau khi nghe những gì Ngài đã nói, hoan hỷ và ghi nhớ kỹ.
SC 1Thus have I heard, once, the Buddha was staying at Sāvatthī in the Jeta Grove, Anāthapiṇḍika’s Park.
SC 2At that time, early one morning, the World-honored One took his robes and his begging bowl and entered the town to beg for food. Having eaten he washed his feet, gathered his seat for meditation and went to the Andhavana forest to meditate. Having looked around for a good spot, he sat down cross-legged beneath a tree in a secluded place, for the day’s abiding.
SC 3At that time in the Jeta Vihāra there were two monks who got into an argument during a meeting. One endured in silence, the other became angry and irate. When the one who had become irate saw that he had transgressed, he went to the monk who had stayed silent, wishing to confess. However, the monk who had endured in silence did not accept the confession. When this transpired, there ensued a noisy discussion among all the monks. The Tathāgata was at that time abiding in meditation, and heard the clamor clearly with his deva-like hearing, which surpasses human hearing and can discern sounds from far away. He rose from his seat, went to the monks, and sat on the seat prepared in front of them.
SC 4The Buddha said to the monks: “This morning I took my robes and begging bowl and entered the town to beg for food. ( … and so on … ) went into the forest, and sitting silently, I heard monks shouting and clamoring. What is the matter?”
SC 5Then the monks told the Buddha: “World-honored One, in the Jeta Vihāra there are two monks who got into an argument during a meeting. One monk endured in silence, the other monk became irate and said a lot. The irate monk knew that he had transgressed and went to offer an honest confession. The monk that had endured silently did not accept the other’s confession, so it became a public issue and everybody started shouting.”
SC 6The Buddha told the monks: “Why be so stupid and not accept someone’s confession? Monks, know that in ancient days Sakka Devānaṁ Inda, while in the Sudhamma Hall among the gods spoke this verse:
SC 7“It is like taking a vessel made from a gourd /
and filling it with butter to use as a lamp;
the flame burning, consuming /
will burn up the gourd as well.
SC 8The angry mind is like this; /
it turns on itself and burns one’s wholesome roots.
We should never harbor annoyance. /
Having sought out anger, disperse it.
SC 9Don’t be drawn in as if in a maelstrom, /
endlessly circling around.
And even if there is anger, abstain from harsh speech, /
not touching on topics that others wish to avoid.
SC 10Deeply respecting others’ wish to avoid such topics, /
we will never harm them.
Taking control of oneself /
is of great advantage to oneself.
SC 11Those without anger, without violence, /
those are noble ones.
They are disciples of noble ones; /
those one should always befriend.
SC 12Those with anger and hatred /
face an obstacle heavy as a mountain
But if, when there is anger and hatred, /
one can control oneself even a little,
then this is called good karma /
like the taming of an unruly horse.’”
SC 13The Buddha said to the monks: “Sakka Devānaṁ Inda reigns over the gods. At ease among them, though powerful he can practice patience and praise those with patience. How could you, monks, who have gone forth, disfigured by shaving off your hair, not be patient and praise patience?”
SC 14When the Buddha had finished, the monks, having listened to what he had said, were happy and remembered it well.