Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
\"Này các tỳ-kheo, gia đình nào con cái tôn kính cha mẹ trong nhà được gọi là sống cùng Phạm Thiên.
Gia đình nào con cái tôn kính cha mẹ trong nhà được gọi là sống cùng Chư Thiên Cổ Xưa.
Gia đình nào con cái tôn kính cha mẹ trong nhà được gọi là sống cùng Bậc Thầy Đầu Tiên.
Gia đình nào con cái tôn kính cha mẹ trong nhà được gọi là sống cùng Bậc Xứng Đáng Cúng Dường.
'Phạm Thiên' là từ chỉ cha mẹ.
'Chư Thiên Cổ Xưa' là từ chỉ cha mẹ.
'Bậc Thầy Đầu Tiên' là từ chỉ cha mẹ.
'Bậc Xứng Đáng Cúng Dường' là từ chỉ cha mẹ.
Tại sao?
Cha mẹ rất hữu ích cho con cái, nuôi nấng, chăm sóc, và giới thiệu thế gian cho con.\"
Đức Phật đã thuyết về vấn đề này.
Về điều này, Ngài nói:
\"Cha mẹ được gọi là 'Phạm Thiên'
và 'Bậc Thầy Đầu Tiên'.
Các ngài xứng đáng được cúng dường từ con cái,
vì các ngài yêu thương con.
Vì vậy người trí
sẽ tôn kính và cung phụng cha mẹ
bằng thức ăn, thức uống,
y phục và chỗ nằm,
xoa bóp và tắm rửa,
và rửa chân cho cha mẹ.
Vì họ phụng dưỡng
cha mẹ như vậy,
bậc trí khen ngợi họ ngay đời này,
và khi lìa đời, họ hoan hỷ nơi cõi trời.\"
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn thuyết: đây là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Sabrahmakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sapubbadevatāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sapubbācariyakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sāhuneyyakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
‘Brahmā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
‘Pubbadevatā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
‘Pubbācariyā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
‘Āhuneyyā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Bahukārā, bhikkhave, mātāpitaro puttānaṁ āpādakā posakā imassa lokassa dassetāro”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Brahmāti mātāpitaro,
pubbācariyāti vuccare;
Āhuneyyā ca puttānaṁ,
pajāya anukampakā.
Tasmā hi ne namasseyya,
sakkareyya ca paṇḍito;
Annena atha pānena,
vatthena sayanena ca;
Ucchādanena nhāpanena,
pādānaṁ dhovanena ca.
Tāya naṁ pāricariyāya,
mātāpitūsu paṇḍitā;
Idheva naṁ pasaṁsanti,
pecca sagge pamodatī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Sattamaṁ.
This was said by the Lord…
“Living with Brahmā are those families where, within the home, mother and father are respected by their children. Living with the early devas are those families where, within the home, mother and father are respected by their children. Living with the early teachers are those families where, within the home, mother and father are respected by their children. Living with those worthy of adoration are those families where, within the home, mother and father are respected by their children. ‘Brahmā,’ bhikkhus, is a term for mother and father. ‘Early devas’ and ‘early teachers’ and ‘those worthy of veneration’ are terms for mother and father. For what reason? Because mother and father are very helpful to their children, they take care of them and bring them up and teach them about the world.”
Mother and father are called
“Brahmā,” “early teachers”
And “worthy of veneration,”
Being compassionate towards
Their family of children.
Thus the wise should venerate them,
Pay them due honour,
Provide them with food and drink,
Give them clothing and a bed,
Anoint and bathe them
And also wash their feet.
When he performs such service
For his mother and his father,
They praise that wise person even here
And hereafter he rejoices in heaven.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
\"Này các tỳ-kheo, gia đình nào con cái tôn kính cha mẹ trong nhà được gọi là sống cùng Phạm Thiên.
Gia đình nào con cái tôn kính cha mẹ trong nhà được gọi là sống cùng Chư Thiên Cổ Xưa.
Gia đình nào con cái tôn kính cha mẹ trong nhà được gọi là sống cùng Bậc Thầy Đầu Tiên.
Gia đình nào con cái tôn kính cha mẹ trong nhà được gọi là sống cùng Bậc Xứng Đáng Cúng Dường.
'Phạm Thiên' là từ chỉ cha mẹ.
'Chư Thiên Cổ Xưa' là từ chỉ cha mẹ.
'Bậc Thầy Đầu Tiên' là từ chỉ cha mẹ.
'Bậc Xứng Đáng Cúng Dường' là từ chỉ cha mẹ.
Tại sao?
Cha mẹ rất hữu ích cho con cái, nuôi nấng, chăm sóc, và giới thiệu thế gian cho con.\"
Đức Phật đã thuyết về vấn đề này.
Về điều này, Ngài nói:
\"Cha mẹ được gọi là 'Phạm Thiên'
và 'Bậc Thầy Đầu Tiên'.
Các ngài xứng đáng được cúng dường từ con cái,
vì các ngài yêu thương con.
Vì vậy người trí
sẽ tôn kính và cung phụng cha mẹ
bằng thức ăn, thức uống,
y phục và chỗ nằm,
xoa bóp và tắm rửa,
và rửa chân cho cha mẹ.
Vì họ phụng dưỡng
cha mẹ như vậy,
bậc trí khen ngợi họ ngay đời này,
và khi lìa đời, họ hoan hỷ nơi cõi trời.\"
Đây cũng là điều đã được Đức Thế Tôn thuyết: đây là điều tôi nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Sabrahmakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sapubbadevatāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sapubbācariyakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sāhuneyyakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
‘Brahmā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
‘Pubbadevatā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
‘Pubbācariyā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
‘Āhuneyyā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Bahukārā, bhikkhave, mātāpitaro puttānaṁ āpādakā posakā imassa lokassa dassetāro”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Brahmāti mātāpitaro,
pubbācariyāti vuccare;
Āhuneyyā ca puttānaṁ,
pajāya anukampakā.
Tasmā hi ne namasseyya,
sakkareyya ca paṇḍito;
Annena atha pānena,
vatthena sayanena ca;
Ucchādanena nhāpanena,
pādānaṁ dhovanena ca.
Tāya naṁ pāricariyāya,
mātāpitūsu paṇḍitā;
Idheva naṁ pasaṁsanti,
pecca sagge pamodatī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Sattamaṁ.