Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
“Này các tỳ-kheo, có hai tư tưởng thường xuyên sanh khởi trong tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác:
tư tưởng về sự bình an che chở, và tư tưởng về sự tĩnh lặng độc cư.
Như Lai luôn yêu mến và hân hoan trong sự từ tâm bao dung nhân ái,
do vậy mà ý nghĩ này thường được mảy may hiện dấy khởi trong tâm trí Ngài:
‘Thông qua nếp sống tịnh và tư hành kiểu hạnh đạo này, Ta nhường hạ chối bỏ tạc tránh chừa tổn phương làm hại hằn nọc gieo thương lên bất kỳ sinh vạn tụ linh nào từ bé bỏng ẻo mong manh non nớt hay to nạc cứng rắn gân dẻo dai khỏe ngạnh.’
Đấng Như Lai có ý luyến say sưa với khoảng trời cách biệt ẩn tịch an lánh xa và cũng vui tràn thỏa chí mừng thầm trong mớ ấy,
rồi cho bởi đó luôn trổ hiển hiện phớt bồi ngự vẩy nảy rạch hiện rõ xuất gieo về ý nghĩ thế lên Ngài:
‘Cái nhũng mảng xú độc phi ác vô bất thiện vô mớ quấy đều bị vạt ném chừa bỏ thải đoạn gốc trừ bỏ cụt hết nhẵn nhụi luôn rồi.’
Bởi lẽ thế dĩ nhiên, hỡi tập các tăng tỳ-kheo, chính chư các trò cũng tất cần thấu tâm mến thương sùng mộ sự nhu từ thảo thiện ái luyến trãi ra nhân từ và sướng ngập tràn khoái lạc nín thầm nhấm gặm giữa lòng chốn đó,
xong đà thế cái hướng tâm tưởng nọ lủ cũng tuôn vọt sẽ gõ rạo dội sinh hoài rực tới tọng dấy đong đầy trong tâm các vị thôi đó mà:
‘Qua biểu độ hiện nẻo duyên hành trì này, Con/tôi giũ bỏ tránh tuyệt đối không mầng tổn lột vết xước gai tước trên chi dẫu gì lên trọn trên vạn thảy chủng sinh từ mong ẻo lá non uột hay gân nạc sừng dũng dẻo cựa tạc nẩy bệu cường nịnh cứng dỏ dắn đơ mạnh gì.’
Giới các vị chư môn tử cũng thiết thiết dâng mến yêu đắm đuối say trọn bề bặt tịnh nẻo tĩnh dứt trọn không cõi đơn lẻ này và rồi an trú mến hĩ hoan lạc ngập mình tràn dội say giữa mảng an không chốn đó,
vậy tắp tới tư duy tưởng này cũng dính cũng dột hoài năng hiện hoài trổ thường quy xuất trổ dấy bùng gieo tới cho nhãn tri tâm não các vị thôi đành nợ:
‘Chuyện/việc chi ác dở phi mảng uế uất vô thiện bất hành nhễ? Gì là bất đoạn lìa xả dĩ nhiên khó trút vậy? Vạn tá nhũng mớ gì đáng cất mình tuột trút diệt sả trút cất xém quăng đây ta đây?’”
Đức Phật đã luận giảng sự việc này.
Và đây là điều được ngài thi kệ:
“Bộ đôi chập sóng kép tri nghĩ tư tưởng cũng vụt vẫy tọt nọc khởi ló hiện vào Ngài,
Nhà đấng Phật Thế Tôn Ngộ đà, người gánh luôn gồng cả tuốt cái trọng kiên khẳm khối bất khả rinh nặng đai:
cái vội nhác sơ khều thưa vướng đầu vấp chập nói nhói chạm mở cất đề tên tới là tảng ý nghĩ tư tưởng xéo mong tìm ngõ bến neo ẩn thoát trốn an nương an bình bọc vệ che,
rồi rứt kế tới điểm đút kết chỉ dấu làm rõ soi thứ hai rạch soi mặt chánh tàng là tĩnh tịch cách tịt lánh viễn ẩn lìa nẻo thế tịnh cô.”
Tay xua bạt tạt rẹt xủ chói xóa dạt mài rụi mớ tối sọ thủ dàu bóng tối âm hắc diệt mịt mù kia, nhà đắc quán thông thấu hiểu đại đấng thị ngã cũng tuột thoái vượt trơn mượt vọt sút thoát nốt đi sút cái mương thác vũng lún đò giông:
chạm đích đạt điểm, ngôi đài làm Vua Chủ trị vị Tôn, nhà ngài không dín lấm uế nhiểm.
Giữa ngay chốn vũng mịt bùn sình trong bao lớp lõi trần tăm sính cuộn quay tít lộn kia, ngài lướt vọt xé toạc bay thốc tước giũ vượt bay bặt sạch bong thoát trơn xả diệt tước triệt gỡ trặt hết ái nung khát thèm dục lạc vọng;
và thể bậc thiện mâu-ni minh tuệ này cũng lôi mang ôm mang vác trên sấp theo khối huyễn mụ sác vật mang kiếp thân trần mạng đọ rốt chóp trót sau cuối cục phần cùng chung này đâu đây thôi chớ.
Ngài thảy đoạt khước trừ giủ dọn tăm đẩy tước tuột bỏ xác dọn tiêu trừ diệt ngáo Ác Thần Vương Ma-ra dứt lác rác trống trơn dột trọi mất bay, Ta tróc lên xác ban lời khải tạc bẩm chuẩn như rứa đó rành chứng thị như ngứa chả mảy sai nhầm gạn phước, dọt sải bay khỏi quá vòng cương tận lướt phăng khỏi luôn ải xế cửa tử kiếp luân đoạn xế cỗi thoái lão già già suy nhược.
Giống chân sừng vững gác đóng tạc bệ điểm đầu trên lóc tạc đỉnh chóp nốc nhọn ngọn ngọn tảng đá non gập ghềnh núi mỏm,
tầm nhãn quang cậu trải vút dõi phóng lướt xa đảo túy mục tuốt vóc đám chúng nhân bùng nhung chùm nhút xung lác đác vòng xít quanh lấm quấn bên rảo rợp thảy ráo trọi.
Liền cũng chẳng vướng một ngấn cách dị sai tẻ chi tréo so y chang bằng cách ấy với theo dọi cung như rứa đó thẩy y khuôn in, bực có đài quán thông nhãn thị thấu đại bực, tót khôn siêu nhạy quá não,
khi sau do bấy đài lốc phóng lướt thốc đánh vượt vút chóp trọc đáp trèo ngự đĩnh chiếm leo lọt sút phi thân tót trên chóp vòi Đền Thiền Pháp Thực Lý Chân Ngôi Đền Tự Sự Thực Chơn,
quẳng rũ sổ sút đứt hẫng u uất ẻo tang thương muộn rĩ buồn bi bi ai diệt thoát, ngài cúi mi nghiêng mống dốc màng ngó dọng mọng ánh liếc quang xéo nhòm mục đài soi thương chích xót xa bàng ánh bi vô nhóng chỏ vào xập đong xít bầy dân ngu muội lạc sanh đám chúng sanh
tụi bị tuốt tấp nuốt dìm thấu phăng chìm ngoẻn bao rợp rũ chìm hụp ngập lúm trong dạt dào não oán sầu lê sầu quẩn, những hạng bị kẹp sụm đánh rớt úp hụt tàn tạc phó màng chổng lốc điêu bởi ách luân rày trôi sinh luẩn quất chuyển dập tái hành vướng xé với mục quắt tàng tạc xế chiều hao lão nhược tàn úa già móp nheo khọm.”
Đây thêm cái nữa là sự việc đã được Đức Bổn Sư Tôn Giác thuyết ban: đó dĩ nhiên là lẽ lời tôi lúc ấy đà có rảnh nghe qua vậy.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tathāgataṁ, bhikkhave, arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dve vitakkā bahulaṁ samudācaranti—
khemo ca vitakko, paviveko ca.
Abyāpajjhārāmo, bhikkhave, tathāgato abyāpajjharato.
Tamenaṁ, bhikkhave, tathāgataṁ abyāpajjhārāmaṁ abyāpajjharataṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarati:
‘imāyāhaṁ iriyāya na kañci byābādhemi tasaṁ vā thāvaraṁ vā’ti.
Pavivekārāmo, bhikkhave, tathāgato pavivekarato.
Tamenaṁ, bhikkhave, tathāgataṁ pavivekārāmaṁ pavivekarataṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarati:
‘yaṁ akusalaṁ taṁ pahīnan’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, tumhepi abyāpajjhārāmā viharatha abyāpajjharatā.
Tesaṁ vo, bhikkhave, tumhākaṁ abyāpajjhārāmānaṁ viharataṁ abyāpajjharatānaṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarissati:
‘imāya mayaṁ iriyāya na kañci byābādhema tasaṁ vā thāvaraṁ vā’ti.
Pavivekārāmā, bhikkhave, viharatha pavivekaratā.
Tesaṁ vo, bhikkhave, tumhākaṁ pavivekārāmānaṁ viharataṁ pavivekaratānaṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarissati:
‘kiṁ akusalaṁ, kiṁ appahīnaṁ, kiṁ pajahāmā’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Tathāgataṁ buddhamasayhasāhinaṁ,
Duve vitakkā samudācaranti naṁ;
Khemo vitakko paṭhamo udīrito,
Tato viveko dutiyo pakāsito.
Tamonudaṁ pāragataṁ mahesiṁ,
Taṁ pattipattaṁ vasimaṁ anāsavaṁ;
Visantaraṁ taṇhakkhaye vimuttaṁ,
Taṁ ve muniṁ antimadehadhāriṁ;
Mārañjahaṁ brūmi jarāya pāraguṁ.
Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito,
Yathāpi passe janataṁ samantato;
Tathūpamaṁ dhammamayaṁ sumedho,
Pāsādamāruyha samantacakkhu;
Sokāvatiṇṇaṁ janatamapetasoko,
Avekkhati jātijarābhibhūtan”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Paṭhamaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, two thoughts often occur to the Tathāgata, the Arahant, the Fully Enlightened One: the thought of security (for beings) and the thought of solitude.
“The Tathāgata, bhikkhus, is one who delights in and enjoys non-ill will. As the Tathāgata delights in and enjoys non-ill will, this thought often occurs to him: ‘By this behaviour I do not oppress anyone either frail or firm.’The Tathāgata, bhikkhus, is one who delights in and enjoys solitude. As the Tathāgata delights in and enjoys solitude, this thought often occurs to him: ‘What is unwholesome has been abandoned.’
“Therefore, bhikkhus, I say, you too must live delighting in and enjoying non-ill will. As you so live this thought will often occur to you: ‘By this behaviour we do not oppress anyone either frail or firm.’
“Bhikkhus, you too must live delighting in and enjoying solitude. As you so live this thought will often occur to you: ‘What is unwholesome? What has not been abandoned? What have we abandoned?’”
Two thoughts occur to him,
The Tathāgata, the Awakened One
Who endured what is beyond endurance:
Security (for beings) was the first thought spoken of,
Solitude was the second announced.
The dispeller of darkness, gone beyond,
The great sage who has reached attainment,
Become a master, freed from taints,
Who has crossed over entirely,
Released by the destruction of craving—
That sage bears his final body,
And having left behind Māra, I say,
He has gone beyond decay.
As one standing on a mountain peak
Might see all round the people down below,
So having ascended the Dhamma-palace,
The vastly wise one, all-seeing,
Views the people of the world.
The sorrowless one views below
Those still immersed in sorrow,
Overwhelmed by birth and decay.
Điều này đã được Đức Phật, bậc Toàn Giác thuyết: đây là điều tôi nghe.
“Này các tỳ-kheo, có hai tư tưởng thường xuyên sanh khởi trong tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác:
tư tưởng về sự bình an che chở, và tư tưởng về sự tĩnh lặng độc cư.
Như Lai luôn yêu mến và hân hoan trong sự từ tâm bao dung nhân ái,
do vậy mà ý nghĩ này thường được mảy may hiện dấy khởi trong tâm trí Ngài:
‘Thông qua nếp sống tịnh và tư hành kiểu hạnh đạo này, Ta nhường hạ chối bỏ tạc tránh chừa tổn phương làm hại hằn nọc gieo thương lên bất kỳ sinh vạn tụ linh nào từ bé bỏng ẻo mong manh non nớt hay to nạc cứng rắn gân dẻo dai khỏe ngạnh.’
Đấng Như Lai có ý luyến say sưa với khoảng trời cách biệt ẩn tịch an lánh xa và cũng vui tràn thỏa chí mừng thầm trong mớ ấy,
rồi cho bởi đó luôn trổ hiển hiện phớt bồi ngự vẩy nảy rạch hiện rõ xuất gieo về ý nghĩ thế lên Ngài:
‘Cái nhũng mảng xú độc phi ác vô bất thiện vô mớ quấy đều bị vạt ném chừa bỏ thải đoạn gốc trừ bỏ cụt hết nhẵn nhụi luôn rồi.’
Bởi lẽ thế dĩ nhiên, hỡi tập các tăng tỳ-kheo, chính chư các trò cũng tất cần thấu tâm mến thương sùng mộ sự nhu từ thảo thiện ái luyến trãi ra nhân từ và sướng ngập tràn khoái lạc nín thầm nhấm gặm giữa lòng chốn đó,
xong đà thế cái hướng tâm tưởng nọ lủ cũng tuôn vọt sẽ gõ rạo dội sinh hoài rực tới tọng dấy đong đầy trong tâm các vị thôi đó mà:
‘Qua biểu độ hiện nẻo duyên hành trì này, Con/tôi giũ bỏ tránh tuyệt đối không mầng tổn lột vết xước gai tước trên chi dẫu gì lên trọn trên vạn thảy chủng sinh từ mong ẻo lá non uột hay gân nạc sừng dũng dẻo cựa tạc nẩy bệu cường nịnh cứng dỏ dắn đơ mạnh gì.’
Giới các vị chư môn tử cũng thiết thiết dâng mến yêu đắm đuối say trọn bề bặt tịnh nẻo tĩnh dứt trọn không cõi đơn lẻ này và rồi an trú mến hĩ hoan lạc ngập mình tràn dội say giữa mảng an không chốn đó,
vậy tắp tới tư duy tưởng này cũng dính cũng dột hoài năng hiện hoài trổ thường quy xuất trổ dấy bùng gieo tới cho nhãn tri tâm não các vị thôi đành nợ:
‘Chuyện/việc chi ác dở phi mảng uế uất vô thiện bất hành nhễ? Gì là bất đoạn lìa xả dĩ nhiên khó trút vậy? Vạn tá nhũng mớ gì đáng cất mình tuột trút diệt sả trút cất xém quăng đây ta đây?’”
Đức Phật đã luận giảng sự việc này.
Và đây là điều được ngài thi kệ:
“Bộ đôi chập sóng kép tri nghĩ tư tưởng cũng vụt vẫy tọt nọc khởi ló hiện vào Ngài,
Nhà đấng Phật Thế Tôn Ngộ đà, người gánh luôn gồng cả tuốt cái trọng kiên khẳm khối bất khả rinh nặng đai:
cái vội nhác sơ khều thưa vướng đầu vấp chập nói nhói chạm mở cất đề tên tới là tảng ý nghĩ tư tưởng xéo mong tìm ngõ bến neo ẩn thoát trốn an nương an bình bọc vệ che,
rồi rứt kế tới điểm đút kết chỉ dấu làm rõ soi thứ hai rạch soi mặt chánh tàng là tĩnh tịch cách tịt lánh viễn ẩn lìa nẻo thế tịnh cô.”
Tay xua bạt tạt rẹt xủ chói xóa dạt mài rụi mớ tối sọ thủ dàu bóng tối âm hắc diệt mịt mù kia, nhà đắc quán thông thấu hiểu đại đấng thị ngã cũng tuột thoái vượt trơn mượt vọt sút thoát nốt đi sút cái mương thác vũng lún đò giông:
chạm đích đạt điểm, ngôi đài làm Vua Chủ trị vị Tôn, nhà ngài không dín lấm uế nhiểm.
Giữa ngay chốn vũng mịt bùn sình trong bao lớp lõi trần tăm sính cuộn quay tít lộn kia, ngài lướt vọt xé toạc bay thốc tước giũ vượt bay bặt sạch bong thoát trơn xả diệt tước triệt gỡ trặt hết ái nung khát thèm dục lạc vọng;
và thể bậc thiện mâu-ni minh tuệ này cũng lôi mang ôm mang vác trên sấp theo khối huyễn mụ sác vật mang kiếp thân trần mạng đọ rốt chóp trót sau cuối cục phần cùng chung này đâu đây thôi chớ.
Ngài thảy đoạt khước trừ giủ dọn tăm đẩy tước tuột bỏ xác dọn tiêu trừ diệt ngáo Ác Thần Vương Ma-ra dứt lác rác trống trơn dột trọi mất bay, Ta tróc lên xác ban lời khải tạc bẩm chuẩn như rứa đó rành chứng thị như ngứa chả mảy sai nhầm gạn phước, dọt sải bay khỏi quá vòng cương tận lướt phăng khỏi luôn ải xế cửa tử kiếp luân đoạn xế cỗi thoái lão già già suy nhược.
Giống chân sừng vững gác đóng tạc bệ điểm đầu trên lóc tạc đỉnh chóp nốc nhọn ngọn ngọn tảng đá non gập ghềnh núi mỏm,
tầm nhãn quang cậu trải vút dõi phóng lướt xa đảo túy mục tuốt vóc đám chúng nhân bùng nhung chùm nhút xung lác đác vòng xít quanh lấm quấn bên rảo rợp thảy ráo trọi.
Liền cũng chẳng vướng một ngấn cách dị sai tẻ chi tréo so y chang bằng cách ấy với theo dọi cung như rứa đó thẩy y khuôn in, bực có đài quán thông nhãn thị thấu đại bực, tót khôn siêu nhạy quá não,
khi sau do bấy đài lốc phóng lướt thốc đánh vượt vút chóp trọc đáp trèo ngự đĩnh chiếm leo lọt sút phi thân tót trên chóp vòi Đền Thiền Pháp Thực Lý Chân Ngôi Đền Tự Sự Thực Chơn,
quẳng rũ sổ sút đứt hẫng u uất ẻo tang thương muộn rĩ buồn bi bi ai diệt thoát, ngài cúi mi nghiêng mống dốc màng ngó dọng mọng ánh liếc quang xéo nhòm mục đài soi thương chích xót xa bàng ánh bi vô nhóng chỏ vào xập đong xít bầy dân ngu muội lạc sanh đám chúng sanh
tụi bị tuốt tấp nuốt dìm thấu phăng chìm ngoẻn bao rợp rũ chìm hụp ngập lúm trong dạt dào não oán sầu lê sầu quẩn, những hạng bị kẹp sụm đánh rớt úp hụt tàn tạc phó màng chổng lốc điêu bởi ách luân rày trôi sinh luẩn quất chuyển dập tái hành vướng xé với mục quắt tàng tạc xế chiều hao lão nhược tàn úa già móp nheo khọm.”
Đây thêm cái nữa là sự việc đã được Đức Bổn Sư Tôn Giác thuyết ban: đó dĩ nhiên là lẽ lời tôi lúc ấy đà có rảnh nghe qua vậy.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tathāgataṁ, bhikkhave, arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dve vitakkā bahulaṁ samudācaranti—
khemo ca vitakko, paviveko ca.
Abyāpajjhārāmo, bhikkhave, tathāgato abyāpajjharato.
Tamenaṁ, bhikkhave, tathāgataṁ abyāpajjhārāmaṁ abyāpajjharataṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarati:
‘imāyāhaṁ iriyāya na kañci byābādhemi tasaṁ vā thāvaraṁ vā’ti.
Pavivekārāmo, bhikkhave, tathāgato pavivekarato.
Tamenaṁ, bhikkhave, tathāgataṁ pavivekārāmaṁ pavivekarataṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarati:
‘yaṁ akusalaṁ taṁ pahīnan’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, tumhepi abyāpajjhārāmā viharatha abyāpajjharatā.
Tesaṁ vo, bhikkhave, tumhākaṁ abyāpajjhārāmānaṁ viharataṁ abyāpajjharatānaṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarissati:
‘imāya mayaṁ iriyāya na kañci byābādhema tasaṁ vā thāvaraṁ vā’ti.
Pavivekārāmā, bhikkhave, viharatha pavivekaratā.
Tesaṁ vo, bhikkhave, tumhākaṁ pavivekārāmānaṁ viharataṁ pavivekaratānaṁ eseva vitakko bahulaṁ samudācarissati:
‘kiṁ akusalaṁ, kiṁ appahīnaṁ, kiṁ pajahāmā’”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Tathāgataṁ buddhamasayhasāhinaṁ,
Duve vitakkā samudācaranti naṁ;
Khemo vitakko paṭhamo udīrito,
Tato viveko dutiyo pakāsito.
Tamonudaṁ pāragataṁ mahesiṁ,
Taṁ pattipattaṁ vasimaṁ anāsavaṁ;
Visantaraṁ taṇhakkhaye vimuttaṁ,
Taṁ ve muniṁ antimadehadhāriṁ;
Mārañjahaṁ brūmi jarāya pāraguṁ.
Sele yathā pabbatamuddhaniṭṭhito,
Yathāpi passe janataṁ samantato;
Tathūpamaṁ dhammamayaṁ sumedho,
Pāsādamāruyha samantacakkhu;
Sokāvatiṇṇaṁ janatamapetasoko,
Avekkhati jātijarābhibhūtan”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Paṭhamaṁ.