Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đây là lời Đức Phật, bậc Toàn Giác đã dạy: đó là điều tôi được nghe.
"Này các Tỳ-kheo, thân này mong manh, thức có thể tàn lụi, và mọi chấp thủ đều vô thường, khổ và hoại diệt."
Đức Phật đã thuyết về vấn đề này.
Về điều này, có lời kệ rằng:
"Biết rằng thân mong manh,
rằng thức đã tàn lụi,
thấy nguy hiểm trong chấp thủ,
họ vượt qua sinh tử.
Đạt được an tịnh tối thượng,
đã tiến hóa, họ chờ đợi thời."
Đây cũng là vấn đề được Đức Thế Tôn thuyết: đó là điều tôi được nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Bhidurāyaṁ, bhikkhave, kāyo, viññāṇaṁ virāgadhammaṁ, sabbe upadhī aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Kāyañca bhiduraṁ ñatvā,
Viññāṇañca virāgunaṁ;
Upadhīsu bhayaṁ disvā,
Jātimaraṇamaccagā;
Sampatvā paramaṁ santiṁ,
Kālaṁ kaṅkhati bhāvitatto”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Aṭṭhamaṁ.
This was said by the Lord…
“This body, bhikkhus, is perishable, consciousness is of a nature to dissolve, and all objects of clinging are impermanent, suffering, and subject to change.”
Having known the body as perishable
And consciousness as bound to dissolve,
Having seen fear in objects of clinging,
He has gone beyond birth and death;
Having attained supreme peace,
With composed mind he bides his time.
Đây là lời Đức Phật, bậc Toàn Giác đã dạy: đó là điều tôi được nghe.
"Này các Tỳ-kheo, thân này mong manh, thức có thể tàn lụi, và mọi chấp thủ đều vô thường, khổ và hoại diệt."
Đức Phật đã thuyết về vấn đề này.
Về điều này, có lời kệ rằng:
"Biết rằng thân mong manh,
rằng thức đã tàn lụi,
thấy nguy hiểm trong chấp thủ,
họ vượt qua sinh tử.
Đạt được an tịnh tối thượng,
đã tiến hóa, họ chờ đợi thời."
Đây cũng là vấn đề được Đức Thế Tôn thuyết: đó là điều tôi được nghe.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Bhidurāyaṁ, bhikkhave, kāyo, viññāṇaṁ virāgadhammaṁ, sabbe upadhī aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Kāyañca bhiduraṁ ñatvā,
Viññāṇañca virāgunaṁ;
Upadhīsu bhayaṁ disvā,
Jātimaraṇamaccagā;
Sampatvā paramaṁ santiṁ,
Kālaṁ kaṅkhati bhāvitatto”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Aṭṭhamaṁ.