Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Đức Phật, bậc Ứng Cúng, đã nói điều này: tôi đã nghe như vậy.
“Này các Tỳ-kheo, có ba cơ sở tạo phước này.
Những gì là ba?
Bố thí, giới hạnh, và thiền định đều là các cơ sở tạo phước.
Đây là ba cơ sở tạo phước.”
Đức Phật đã nói điều này.
Về điều này, có lời dạy rằng:
“Người ta chỉ nên thực hành những thiện nghiệp,
mà quả báo an lạc trải dài phía trước.
Bố thí và giới hạnh,
phát triển tâm từ:
sau khi đã phát triển ba điều này
mang lại hạnh phúc,
người trí tuệ ấy được tái sinh
vào một thế giới an lạc, khả ái.”
Đây cũng là một điều đã được Đức Thế Tôn nói: tôi đã nghe như vậy.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tīṇimāni, bhikkhave, puññakiriyavatthūni.
Katamāni tīṇi?
Dānamayaṁ puññakiriyavatthu, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthu—
imāni kho, bhikkhave, tīṇi puññakiriyavatthūnī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Puññameva so sikkheyya,
āyataggaṁ sukhudrayaṁ;
Dānañca samacariyañca,
mettacittañca bhāvaye.
Ete dhamme bhāvayitvā,
tayo sukhasamuddaye;
Abyābajjhaṁ sukhaṁ lokaṁ,
paṇḍito upapajjatī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Paṭhamaṁ.
This was said by the Lord…
“Bhikkhus, there are these three grounds for making merit. What three? The ground for making merit consisting in giving, the ground for making merit consisting in virtue, and the ground for making merit consisting in mind-development. These are the three.”
One should train in deeds of merit
That yield long-lasting happiness:
Generosity, a balanced life,
Developing a loving mind.
By cultivating these three things,
Deeds yielding happiness,
The wise person is reborn in bliss
In an untroubled happy world.
Đức Phật, bậc Ứng Cúng, đã nói điều này: tôi đã nghe như vậy.
“Này các Tỳ-kheo, có ba cơ sở tạo phước này.
Những gì là ba?
Bố thí, giới hạnh, và thiền định đều là các cơ sở tạo phước.
Đây là ba cơ sở tạo phước.”
Đức Phật đã nói điều này.
Về điều này, có lời dạy rằng:
“Người ta chỉ nên thực hành những thiện nghiệp,
mà quả báo an lạc trải dài phía trước.
Bố thí và giới hạnh,
phát triển tâm từ:
sau khi đã phát triển ba điều này
mang lại hạnh phúc,
người trí tuệ ấy được tái sinh
vào một thế giới an lạc, khả ái.”
Đây cũng là một điều đã được Đức Thế Tôn nói: tôi đã nghe như vậy.
Vuttañhetaṁ bhagavatā vuttamarahatāti me sutaṁ:
“Tīṇimāni, bhikkhave, puññakiriyavatthūni.
Katamāni tīṇi?
Dānamayaṁ puññakiriyavatthu, sīlamayaṁ puññakiriyavatthu, bhāvanāmayaṁ puññakiriyavatthu—
imāni kho, bhikkhave, tīṇi puññakiriyavatthūnī”ti.
Etamatthaṁ bhagavā avoca.
Tatthetaṁ iti vuccati:
“Puññameva so sikkheyya,
āyataggaṁ sukhudrayaṁ;
Dānañca samacariyañca,
mettacittañca bhāvaye.
Ete dhamme bhāvayitvā,
tayo sukhasamuddaye;
Abyābajjhaṁ sukhaṁ lokaṁ,
paṇḍito upapajjatī”ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Paṭhamaṁ.